Nên để thị trường hấp thụ vốn tự nhiên

09:05 | 21/10/2016

Vấn đề lãi suất hiện nay đối với các DN Việt Nam không phải là yếu tố quan trọng số một, mà quan trọng nhất là làm thế nào để họ tiếp cận được vốn thông qua minh bạch tài chính, kế toán, sổ sách, dự án… Để NH có thể đánh giá, phân loại… đưa ra mức lãi suất cho vay từng DN.

Giảm lãi suất cho vay nhưng phải tuân thủ nguyên tắc thị trường
Động lực giảm lãi suất cho vay
Có điều kiện để giảm lãi suất cho vay
Ông Võ Trí Thành

Lãi suất phù hợp hay không thể hiện qua sức hấp thụ vốn của thị trường, nên nếu nhìn ở góc độ này lãi suất đang rất hợp lý, biểu hiện qua tín dụng tăng trưởng khá tốt… Ông Võ Trí Thành, thành viên Hội đồng tư vấn tài chính tiền tệ quốc gia chia sẻ quan điểm trên với phóng viên Thời báo Ngân hàng.

Như ông nói, lãi suất đang phù hợp với thị trường. Nhưng nhìn ở góc độ DN đã phù hợp chưa?

Xét về yếu tố lịch sử, lãi suất thời điểm này không phải cao nếu không nói là thấp hơn rất nhiều cách đây vài năm. Trong khi đó, vấn đề lãi suất hiện nay đối với các DN Việt Nam không phải là yếu tố quan trọng số một, mà quan trọng nhất là làm thế nào để họ tiếp cận được vốn thông qua minh bạch tài chính, kế toán, sổ sách, dự án… Để NH có thể đánh giá, phân loại… đưa ra mức lãi suất cho vay từng DN.

Theo thị trường thì lãi suất sẽ tùy vào từng khách hàng, nhưng DN luôn muốn có lãi suất ổn định, có trần lãi suất để hoạt động sản xuất kinh doanh không bị xáo trộn, thưa ông?

Đòi hỏi ấy có phần ngược lại với mục tiêu chúng ta đang hướng tới là phát triển nền kinh tế thị trường. Theo đó, giá cả hàng hóa, dịch vụ hay như lãi suất, tỷ giá cũng phải linh hoạt, phản ánh theo diễn biến thị trường, tránh áp đặt. Biện pháp mang tính hành chính có thể dẫn đến nguy cơ méo mó phân bổ nguồn lực.

Muốn lãi suất ổn định trong dài hạn thì kinh tế vĩ mô phải vững chắc, lạm phát thấp. Các công cụ chính sách như tiền tệ và tài khóa có vai trò quan trọng trong duy trì nền kinh tế ổn định. Đối với chính sách tiền tệ, hoàn thiện chính sách để sử dụng những công cụ có tính thị trường hơn như là thị trường mở, thị trường liên NH… qua đó góp phần quan trọng điều tiết lãi suất ổn định. Còn đối với chính sách tài khóa thì vấn đề kỷ luật ngân sách đặt lên hàng đầu, làm sao để không gây sức ép lên chính sách tiền tệ.

Để đảm bảo mặt bằng lãi suất thấp một cách thích hợp, theo tôi phải có nền tảng cơ bản nhất đó là lành mạnh hóa hệ thống tài chính, NH. Các “trò chơi” tài chính sẽ ngày càng phức tạp hơn, vì thế việc giám sát hoạt động của các NH cũng phải ngày càng tốt hơn, hoàn thiện thể chế pháp lý đảm bảo an toàn hệ thống.

Việc ấn định lãi suất cho vay là khó khả thi, bởi có những khác biệt về mặt đối xứng thông tin giữa các NHTM với DN. Một trong những nguyên tắc của các NH khi cho vay là mức lãi suất tùy theo độ rủi ro của khách hàng. DN tốt lãi suất tốt, và ngược lại. Đấy là “trò chơi” rất thị trường, khi tham gia chúng ta phải chấp nhận sòng phẳng. Tóm lại, theo quan điểm của tôi nên để thị trường hấp thụ vốn một cách tự nhiên.

Có ý kiến đang lo ngại tín dụng có thể tăng trưởng nóng. Ông thấy sao về điều này?

Mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay từ 18-20%, gắn với đó là ổn định kinh tế vĩ mô, phù hợp mục tiêu tăng trưởng. Bên cạnh đó, năng lực cung ứng tiền cũng như hoạt động bơm - hút tiền của NHNN khá tốt. Và quan điểm của NHNN là bám sát diễn biến thị trường, linh hoạt điều chỉnh chính sách nên không quá đáng ngại.

Điều tôi quan tâm hơn là chất lượng tín dụng. Vấn đề cần phải giải quyết là tái cấu trúc nền kinh tế, xử lý nợ xấu, ổn định kinh tế vĩ mô chứ không nên dùng chính sách lãi suất thấp để kích thích tăng trưởng.

Như trường hợp Indonesia trước đây, lãi suất thấp hơn Việt Nam nhưng vừa rồi nước này gặp vấn đề về ngân sách, cán cân thanh toán, lòng tin đồng nội tệ giảm dẫn tới phá giá mấy chục % bản tệ, lạm phát tăng lại phải nâng lãi suất… Cho nên có những thời điểm không nhất thiết cần lãi suất rẻ mà quan trọng là phù hợp với cân đối vĩ mô.

Xin cảm ơn ông!

Thanh Huyền thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.641 22.861 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.660 22.875 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.860 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.150
Vàng SJC 5c
56.500
57.170
Vàng nhẫn 9999
50.550
51.450
Vàng nữ trang 9999
50.150
51.150