Ngân hàng mạnh mới giúp được nền kinh tế

10:00 | 11/09/2020

Kết quả cuộc khảo sát điều tra về xu hướng tín dụng của các TCTD do Vụ Dự báo Thống kê (NHNN) công bố mới đây cho thấy, các TCTD siết chặt hơn các yêu cầu về tài sản  đảm bảo và xếp hạng tín nhiệm của khách hàng nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng; đặc biệt kiểm soát chặt hơn điều kiện và điều khoản vay vốn đối với các khoản vay đầu tư kinh doanh bất động sản, chứng khoán và vay tiêu dùng. 

ngan hang manh moi giup duoc nen kinh te Nhiều động lực tăng trưởng tín dụng cuối năm
ngan hang manh moi giup duoc nen kinh te Tạo thêm dư địa để hỗ trợ khách hàng
ngan hang manh moi giup duoc nen kinh te
Chỉ cấp tín dụng cho dự án khả thi, bảo đảm pháp lý, có khả năng trả nợ đúng hạn

Việc kiểm soát chất lượng tín dụng vào những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản cũng luôn được NHNN nhắc nhở các TCTD lưu tâm. Để hỗ trợ thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, trong điều hành tín dụng, NHNN đã thực hiện nhiều giải pháp kiểm soát tín dụng để hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực này, nhất là kiểm soát tín dụng đối với các dự án phân khúc cao cấp, bất động sản du lịch nghỉ dưỡng, hướng dòng vốn vào nhu cầu thực. Chỉ xem xét cấp tín dụng đối với các dự án, phương án vay vốn khả thi, bảo đảm tính pháp lý, khách hàng có khả năng trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

Văn bản mới đây của NHNN cũng tiếp tục yêu cầu các TCTD kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là tín dụng đầu tư, kinh doanh bất động sản, chứng khoán, BOT, BT giao thông, TCTD cấp tín dụng để góp vốn, mua cổ phần và đầu tư trái phiếu DN…

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, nhiều món vay của ngân hàng được thế chấp bằng tài sản  đảm bảo là bất động sản. Do đó nếu không kiểm soát chặt thì sẽ rất dễ dẫn tới hệ quả khó lường, như bài học nhãn tiền trong quá khứ.

Tín dụng bất động sản bị khống chế về tỷ lệ cho vay đã khiến các DN đẩy mạnh phát hành trái phiếu với lãi suất cao gấp nhiều lần so với tiết kiệm ngân hàng, lên 10 - 13%/năm. Báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) mới đây cho thấy nhóm các DN bất động sản phát hành nhiều nhất trong quý II/2020, đạt 71.600 tỷ đồng, chiếm 41,8% tổng lượng phát hành và tăng 57,5% so với cùng kỳ. Tính riêng các DN bất động sản, bên mua là NHTM với 28.200 tỷ đồng trái phiếu bất động sản trên thị trường sơ cấp, chiếm 40% tổng lượng phát hành. Chuyên gia lưu ý, việc phát hành trái phiếu với lãi suất cao, được nhiều nhà băng mua trái phiếu DN bất động sản như một hình thức đảo nợ khoản vay, sẽ gây rủi ro lớn cho nền kinh tế. 

Để ngăn ngừa rủi ro này, mới đây NHNN đã xây dựng Dự thảo thông tư quy định về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua, bán trái phiếu DN. Theo dự thảo, TCTD chỉ được mua trái phiếu DN khi có tỷ lệ nợ xấu dưới 3% theo báo cáo tài chính gần nhất đã được kiểm toán tại thời điểm mua, trừ trường hợp mua trái phiếu theo phương án cơ cấu lại được cấp có thẩm quyền phê duyệt. TCTD không được mua trái phiếu, bao gồm mua từ phát hành lần đầu và mua lại từ các tổ chức, cá nhân khác, của DN phát hành có phát sinh nợ xấu tại TCTD mua và tại TCTD trong vòng 12 tháng gần nhất trước thời điểm quyết định phê duyệt mua.

Theo giới chuyên môn, quy định này nhằm góp phần hạn chế nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng của các TCTD. Dự thảo cũng quy định TCTD không được mua trái phiếu DN phát hành có mục đích để góp vốn, mua cổ phần tại DN khác.

Trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động của dịch Covid-19 từ đầu năm tới nay, mức độ rủi ro của các khoản vay trong cả năm 2020 chắc chắn sẽ tăng so với năm 2019. Nhiều giải pháp hỗ trợ DN tháo gỡ khó khăn, phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh đã được NHNN cũng như các TCTD triển khai rất quyết liệt thời gian qua. Song giới chuyên gia cũng lưu ý, hỗ trợ tín dụng là việc cần phải làm để kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng hệ thống TCTD phải duy trì được các tiêu chuẩn, điều kiện trong cấp vốn, không tháo gỡ các thủ tục, quy định nội bộ, vì yêu cầu tiên quyết là phải đảm bảo an toàn vốn. “Chúng ta sẽ không thể hỗ trợ được cho nền kinh tế nếu không đảm bảo được an toàn cho hệ thống ngân hàng”, một chuyên gia chia sẻ.

Diễn biến của đại dịch Covid-19 trên phạm vi toàn cầu nếu tiếp tục chiều hướng phức tạp có thể đẩy kinh tế thế giới suy thoái sâu và tác động nặng nề đến Việt Nam trên nhiều phương diện vì độ mở của nền kinh tế lớn, tương đương 200% GDP. Những diễn biến này tiếp tục ảnh hưởng nặng nề đến điều hành chính sách vĩ mô nói chung và điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng nói riêng.

Theo TS. Châu Đình Linh – Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, trong bối cảnh hiện nay việc điều hành của NHNN đã góp phần rất quan trọng để duy trì các nền tảng vĩ mô ổn định, giảm thiểu tác động bất lợi với nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng hoạt động tốt sẽ đóng góp vào nền tảng ổn định đó, ngược lại khi kinh tế vĩ mô ổn định cũng sẽ giữ cho hệ thống ngân hàng có được môi trường bền vững để phát triển.

Minh Khôi

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250