Ngân hàng Nhà nước là một trong những bộ, ngành vào cuộc sớm nhất hỗ trợ nền kinh tế

21:19 | 04/09/2020

Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8 tổ chức chiều ngày 4/9, trả lời báo chí về kiến nghị giảm lãi suất huy động để có điều kiện giảm lãi suất cho vay, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Nguyễn Thị Hồng khẳng định, trên thực tế mặt bằng lãi suất đã giảm trong bối cảnh NHNN là một trong những Bộ, ngành vào cuộc sớm nhất triển khai các chính sách hỗ trợ nền kinh tế vượt qua đại dịch Covid-19.

ngan hang nha nuoc la mot trong nhung bo nganh vao cuoc som nhat ho tro nen kinh te Chính sách tiền tệ giúp giảm sốc cho nền kinh tế
ngan hang nha nuoc la mot trong nhung bo nganh vao cuoc som nhat ho tro nen kinh te Nền kinh tế cần sức bật từ nhiều giải pháp ngắn và dài hạn trong 6 tháng cuối năm
ngan hang nha nuoc la mot trong nhung bo nganh vao cuoc som nhat ho tro nen kinh te
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, điều hành lãi suất là công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ và trong quá trình điều hành NHNN luôn thực hiện theo hướng lãi suất đảm bảo phù hợp mục tiêu của chính sách tiền tệ, ổn định vĩ mô, đồng thời hài hoà lợi ích giữa người gửi tiền, tổ chức tín dụng và người vay. Khi đại dịch xảy ra, rất nhiều doanh nghiệp, người dân chịu tác động và rất khó khăn về dòng tiền cũng như nguồn thu. Vì vậy, NHNN đã triển khai quyết liệt các giải pháp và là một trong số Bộ, ngành vào cuộc sớm nhất.

Cụ thể, NHNN đã điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành, giảm trần lãi suất cho vay và cũng giảm trần lãi suất huy động để có điều kiện hỗ trợ chi phí vay vốn với doanh nghiệp và người dân. Phó Thống đốc nhấn mạnh, ngành Ngân hàng đã đánh giá trong điều kiện dịch Covid-19 xảy ra thì các doanh nghiệp rất khó khăn trong trả nợ vì giai đoạn này nguồn thu của doanh nghiệp và người dân khó khăn. Do đó, NHNN ban hành Thông tư 01/2020/TT-NHNN tập trung chủ yếu cho phép các tổ chức tín dụng (TCTD) cơ cấu lại thời hạn trả nợ và miễn giảm lãi vay.

Theo quy định, thông thường phải chuyển nhóm nợ, nhưng Thông tư 01 cho phép giữ nguyên nhóm nợ để doanh nghiệp mặc dù khó khăn những vẫn có điều kiện tiếp cận vốn vay. Đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực đều có thể được tiếp cận chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ.

Bên cạnh đó, NHNN chỉ đạo các TCTD giảm lãi suất cho vay. Đối với các dư nợ cho vay cũ, Thống đốc NHNN cũng đã chỉ đạo, kêu gọi các TCTD bằng chính nguồn lực của mình từ tiết kiệm chi phí, giảm lợi nhuận, kể cả hạn chế chia cổ tức để có nguồn lực tài chính giảm lãi suất các khoản vay cũ. Và trên thực tế các TCTD đã điều chỉnh giảm lãi suất với con số rất đáng ghi nhận. Với các khoản cho vay mới, theo mặt bằng điều hành lãi suất của NHNN thì các khoản vay mới cũng sẽ được thực hiện theo mức lãi suất thấp hơn.

“Diễn biến gần đây cho thấy, so sánh giữa tháng 7/2020 với cuối năm 2019 thì lãi suất huy động tiền gửi bình quân đã giảm 0,6%/năm, cũng tạo điều kiện để giảm lãi suất cho vay”, Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết.

Cũng tại cuộc họp báo, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đánh giá thị trường tiền tệ, tín dụng nhìn chung ổn định và là một trong những điểm sáng của nền kinh tế trong 8 tháng đầu năm. Mặc dù tín dụng đối với nền kinh tế có tăng trưởng nhưng ở mức thấp, tính đến ngày 26/8 mới đạt 4,23%; song chủ yếu là do nhu cầu tín dụng của nền kinh tế không cao, các doanh nghiệp chưa giải quyết được thị trường đầu ra do đứt gẫy cung - cầu. Bên cạnh đó, mặc dù trong bối cảnh chung có nhiều khó khăn nhưng dự trữ ngoại hối vẫn tăng.

Ngọc Khanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.046 23.276 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.077 23..289 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.950
56.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.950
56.400
Vàng SJC 5c
55.950
56.420
Vàng nhẫn 9999
53.600
54.100
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.800