Ngân hàng trung ương Anh sẽ tăng lãi suất trong năm nay

07:00 | 08/11/2021

Không ít nhà phân tích kỳ vọng BoE sẽ tăng lãi suất trước khi kết thúc năm nay.

Trái với kỳ vọng của các nhà đầu tư, NHTW Anh (BoE) không có bất kỳ động thái chính sách gì tại cuộc họp tháng 11.

Theo đó 7/9 thành viên trong Ủy ban Chính sách tiền tệ (MPC) đã bỏ phiếu nhất trí giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục 0,1%. Trong khi 6/9 thành viên nhất trí tiếp tục duy trì quy mô mua vào trái phiếu Chính phủ ở mức 875 tỷ bảng Anh (1,2 nghìn tỷ USD) như hiện tại. MPC cũng nhất trí tiếp tục duy trì quy mô mua vào trái phiếu doanh nghiệp ở mức 20 tỷ bảng, tức vẫn giữ nguyên quy mô chương trình mua tài sản ở mức 895 tỷ bảng Anh như hiện tại.

ngan hang trung uong anh se tang lai suat trong nam nay
NHTW Anh được dự báo sẽ tăng lãi suất vào cuối năm nay

Quyết định trên của BoE đã khiến không ít nhà đầu tư thất vọng khi mà lạm phát tại Anh vẫn đứng ở mức cao, trong khi tăng trưởng kinh tế vừa phải. Theo đó mặc dù lạm phát tại Anh đã chậm lại vào tháng 9 khi chỉ tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, song vẫn đứng ở mức khá cao. Trước đó lạm phát hàng năm đã tăng tới 3,2% trong tháng 8 - mức cao nhất kể từ khi các số liệu được ghi chép vào năm 1997 và cao hơn nhiều mức mục tiêu 2% của BoE.

Đáng chú ý theo các nhà phân tích, sự chậm lại của lạm phát trong tháng 9 có thể chỉ là tạm thời. Ngay cả BoE cũng dự báo lạm phát sẽ tiếp tục tăng tốc lên khoảng 5% vào mùa xuân năm 2022 trước khi giảm trở lại mức mục tiêu 2% vào cuối năm 2023, do tác động của việc tăng giá dầu và khí đốt giảm dần và nhu cầu hàng hóa giảm.

Bill Winters - Giám đốc điều hành của Standard Chartered cho biết, ông tin rằng lạm phát hiện đang mang tính cơ cấu chứ không phải nhất thời. “Tôi thấy áp lực tiền lương khá nhiều ở mọi nơi chúng tôi đến, chúng tôi thấy thiếu lao động. Tất nhiên là các loại chi phí ma sát sẽ tự giảm dần theo thời gian, tuy nhiên giá năng lượng tôi nghĩ sẽ vẫn ở mức cao trong một thời gian vì hoạt động kinh tế là mạnh mẽ”, Winters nói. “Điều đó đối với tôi nói rằng kỳ vọng lạm phát đang trở nên ăn sâu”.

Trong khi đó kinh tế Anh đã tăng trưởng 0,4% trong tháng 8 sau khi bất ngờ giảm 0,1% trong tháng 7. Thị trường lao động đang có dấu hiệu phục hồi. Tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 4,5% trong 3 tháng tính đến tháng 8 trong khi dữ liệu về việc làm tăng mạnh.

“Hơn một triệu việc làm đã được bổ sung ngay lập tức trước khi Chương trình hỗ trợ duy trì việc làm trong thời gian dịch bệnh coronavirus kết thúc vào cuối tháng 9, nhiều hơn đáng kể so với dự kiến trong báo cáo tháng 8”, BoE cho biết. Thị trường lao động phục hồi đã hỗ trợ tốc độ tăng trưởng tiền lương cao hơn.

Tuy nhiên BoE cũng có lý do để làm như vậy khi mà tăng trưởng kinh tế của đảo quốc sương mù đang bị đe dọa trước sự bùng phát của làn sóng dịch coronavirus mới. Về thị trường lao động, BoE cũng lưu ý rằng, “mức độ không chắc chắn cao” về triển vọng ngắn hạn đối với thị trường lao động, sau khi kết thúc kế hoạch phát triển của đất nước vào ngày 30/9.

Mặc dù vậy, không ít nhà phân tích kỳ vọng BoE sẽ tăng lãi suất trước khi kết thúc năm nay. “Chúng tôi dự kiến sẽ có một đợt tăng lãi suất vào tháng 12, khi các nhà hoạch định chính sách có một số bằng chứng về thị trường việc làm sau khi chương trình hỗ trợ việc làm kết thúc”, Luke Bartholomew - Nhà kinh tế cấp cao tại Abrdn cho biết. “Và lãi suất sẽ tăng hơn nữa trong năm tới. Vì vậy, thông điệp gửi đến các nhà đầu tư là các đợt tăng lãi suất sẽ sớm xảy ra”.

Đặc biệt theo các nhà phân tích, trong bối cảnh lạm phát đang rất khó đoán định, BoE sẽ dựa nhiều vào diễn biến tăng trưởng và thị trường lao động để đưa ra quyết định tăng lãi suất. “Dự báo lạm phát của BoE theo giả định về định giá thị trường cho thấy lạm phát giảm xuống dưới mục tiêu trong thời gian dự báo, cho thấy họ xem việc định giá là quá cao”, Ambrose Crofton - Chiến lược gia thị trường toàn cầu tại JPMorgan Asset Management cho biết.

Thế nhưng hiện vẫn chưa rõ về thời gian gián đoạn chuỗi cung ứng, Crofton nhấn mạnh, triển vọng lạm phát rất khó đoán định. Vì vậy, BoE sẽ tìm kiếm những dữ liệu của thị trường lao động sau khi chính sách hỗ trợ việc làm kết thúc. “Chúng tôi nghĩ rằng điều này khiến BoE rơi vào tình thế phụ thuộc nhiều vào dữ liệu, nơi nó sẽ không bị ràng buộc quá nhiều với một mốc thời gian bình thường hóa chính sách được xác định trước”, Crofton nói. Mặc dù vậy, theo vị chuyên gia này, việc tăng lãi suất sắp xảy ra.

Tuy nhiên, việc không tăng lãi suất của BoE tại cuộc họp chính sách tháng 11 đã làm giảm kỳ vọng của thị trường về việc lãi suất sẽ được nâng lên mức 1% vào cuối năm sau.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.940 24.250 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.918 24.218 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.880 24.180 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.900 24.220 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.800 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.905 24.455 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.908 24.210 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.810 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.970 24.260 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.250
67.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.250
67.050
Vàng SJC 5c
66.250
67.070
Vàng nhẫn 9999
53.250
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.050
53.850