Ngân hàng Trung ương châu Âu cam kết giữ nguyên lãi suất

06:00 | 28/07/2021

Vừa qua, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã tuyên bố sẽ giữ chính sách tiền tệ ổn định, tuy nhiên, để phản ánh mục tiêu lạm phát tăng gần đây, họ đã bổ sung một số điều chỉnh trong tương lai. ECB đã cam kết mua 1,85 nghìn tỷ Euro (2,2 nghìn tỷ USD) trái phiếu cho đến tháng 3/2022 như một phần của Chương trình Mua khẩn cấp và các nhà hoạch định chính sách đã nhất trí bỏ phiếu để giữ nguyên gói kích thích này trong thời điểm hiện tại.

Lãi suất cũng không thay đổi, với lãi suất cơ sở tiền gửi chính được giữ nguyên là 0,5%, lãi suất tái cấp vốn chuẩn là 0% và lãi suất cho vay cận biên là 0,25%. Tuy nhiên, Hội đồng Thống đốc của Ngân hàng Trung ương khu vực đồng Euro đã sửa đổi hướng dẫn kỳ hạn về lãi suất và nâng mục tiêu lạm phát lên mức đối xứng 2% trong trung hạn tại cuộc họp đánh giá chiến lược gần đây.

ngan hang trung uong chau au cam ket giu nguyen lai suat
ECB dự kiến giá tiêu dùng sẽ tăng trong những tháng tới

Trong một tuyên bố mới đây, đại diện ECB cam kết lãi suất sẽ duy trì ở mức hiện tại hoặc thấp hơn cho đến khi lạm phát đạt mức 2%. Đồng thời, tiến độ thực hiện lạm phát cơ bản là đủ nâng cao để phù hợp với lạm phát ổn định ở mức 2% trong trung hạn. Tư tưởng nghiêng về chính sách ôn hòa như hiện nay hướng đến một mục tiêu lạm phát gần với lãi suất hơn được coi là một cam kết dễ chịu và dễ thực hiện hơn của ECB.

Với lãi suất gần với giới hạn thấp hơn trong một thời gian và lạm phát vẫn ở dưới mức mục tiêu của Hội đồng thống đốc, ECB cũng tuyên bố sẽ duy trì lập trường chính sách tiền tệ có khả năng ổn định và lâu dài để đạt được mục tiêu lạm phát của mình. Dự báo mới nhất của ECB cho thấy lạm phát toàn phần là 1,9% vào cuối năm 2021, sau đó giảm xuống 1,5% và 1,4% vào các năm 2022 và 2023. Tỷ giá đồng Euro nhanh chóng tăng vọt lên 1,1804 so với đồng đô la Mỹ, nhưng sau đó mất dần những lợi thế đó và đã giảm xuống mức thấp nhất là 1,1777. Chứng khoán châu Âu ít thay đổi ngay sau thông báo, với chỉ số Stoxx 600 toàn châu Âu giữ hầu hết mức tăng của buổi sáng. Lợi suất trái phiếu giảm mạnh, với lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm chuẩn của Đức trượt xuống -0,41% và trái phiếu kỳ hạn 30 năm giảm xuống 0,074%.

Ông Xian Chan, Giám đốc Đầu tư quản lý tài sản tại HSBC cho rằng, đây là thời điểm quan trọng mà ECB cần phải hành động nếu muốn thực hiện cam kết của mình bởi vì các thị trường cho thấy gói kích thích khó thành công trong hoạt động và ổn định lạm phát. Thị trường đã giả định lạm phát chỉ là 1,6%, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 2% của ECB.

Trong thông cáo phát hành vào cuối tháng 6, đại diện ECB cho biết dự báo lạm phát sẽ duy trì ở mức "đáng buồn" là 1,4% vào năm 2023. Vì vậy, ECB thực sự phải hành động ngay để cho thấy nỗ lực thực hiện cam kết “phải mạnh mẽ hoặc bền bỉ hơn”. ECB cũng nên hỗ trợ trong ngắn hạn đối với chứng khoán châu Âu khi có dấu hiệu cho thấy tỷ giá đã thấp hơn trong thời gian dài. Hiện nay, các chuyên gia kinh tế đang theo dõi xem liệu lạm phát của thị trường có bắt đầu tăng hay không? Vì điều này sẽ cho thấy mức độ thị trường tin tưởng vào hiệu quả trong các chính sách của ECB.

Chủ tịch ECB Christine Lagarde cho biết, vẫn còn một chặng đường dài phía trước để bù đắp thiệt hại của nền kinh tế do đại dịch gây ra. Trên thực tế, lạm phát đã ở mức 1,9% trong tháng 6 (vượt trên dự báo) và ECB dự kiến giá tiêu dùng sẽ tăng thêm trong những tháng tới, trước khi giảm trở lại vào năm 2022. Sự gia tăng lạm phát hiện nay phần lớn là do giá năng lượng cao hơn và do tác động cơ bản từ việc giá dầu giảm mạnh khi bắt đầu đại dịch và tác động của việc giảm thuế VAT tạm thời ở Đức vào năm ngoái. Khi nền kinh tế phục hồi, được hỗ trợ bởi các biện pháp chính sách tiền tệ của ECB, kỳ vọng lạm phát sẽ tăng trong trung hạn, mặc dù vẫn ở dưới mức mục tiêu. Trong khi các thước đo về kỳ vọng lạm phát dài hạn đã tăng lên, chúng vẫn còn một khoảng cách so với mục tiêu 2% và như vậy có nghĩa ECB vẫn phải tiếp tục duy trì và bền bỉ với mục tiêu của mình.

Thái Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800