Ngân hàng trung ương Úc sẽ lui thời điểm thu hẹp QE

06:05 | 02/08/2021

Theo các chuyên gia kinh tế, NHTW Úc (Reserve Bank of Australia - RBA) có thể sẽ trì hoãn kế hoạch thu hẹp chương trình mua trái phiếu của mình chỉ 4 tuần sau khi họ công bố về kế hoạch này. Nguyên nhân do các biện pháp kiểm soát kéo dài để ngăn ngừa sự lây lan của biến chủng delta có thể sẽ đẩy nền kinh tế Úc đảo chiều suy giảm trong quý này.

Theo đó, 13 trong số 18 nhà kinh tế tham gia cuộc khảo sát của Bloomberg cho rằng, NHTW Úc sẽ trì hoãn kế hoạch giảm quy mô mua vào tài sản hàng tuần từ 5 tỷ AUD xuống mức 4 tỷ AUD (3 tỷ USD) tại cuộc họp chính sách diễn ra hôm thứ Ba tới. Thậm chí Westpac Banking Corp. vẫn giữ nguyên dự báo của mình khi cho rằng, NHTW Úc tăng quy mô mua lên mức 6 tỷ AUD cho đến hết tháng 11.

Việc đóng cửa kéo dài một tháng ở Sydney hiện đã được kéo dài cho đến cuối tháng 8 do các nhà chức trách không thể ngăn chặn sự bùng phát của các trường hợp lây nhiễm mới. Vì thế, hầu hết các nhà kinh tế (ngoại trừ một người) đều dự báo, tổng sản phẩm quốc nội của Úc sẽ giảm trong quý này, với việc chính phủ đang mở rộng các biện pháp kiểm soát mạnh mẽ nhất để ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh.

ngan hang trung uong uc se lui thoi diem thu hep qe
Ảnh minh họa

“Vẫn còn có sự không chắc chắn đáng kể về thời gian của các vụ đóng cửa trên toàn quốc - đáng chú ý là mức trung bình động 7 ngày của các ca lây nhiễm mới ở New South Wales vẫn đang tăng lên”, Besa Deda - nhà kinh tế trưởng tại Ngân hàng St. George cho biết. Trong bối cảnh đó, theo chuyên gia này, RBA sẽ "quay ngược với thông báo thu hẹp (chương trình mua tài sản) trước đó".

Hiện Commonwealth Bank of Australia ước tính nền kinh tế Australia sẽ giảm 2,7% trong quý này, cao hơn một chút so với dự báo giảm 2,4% của Bloomberg Economics.

Những dự báo đó phản ánh sự thay đổi đáng kể trong triển vọng của kinh tế Úc kể từ khi nước này trở thành một trong những quốc gia đầu tiên lấy lại sản lượng và việc làm bị mất vào năm 2020. Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp tại Úc đã giảm xuống mức 4,9% vào tháng 6, mức thấp nhất một thập kỷ và đang hướng tới mục tiêu của RBA là khoảng 4%, mức được dự kiến tăng trưởng tiền lương sẽ bắt đầu ổn định. Thống đốc RBA Philip Lowe đang hy vọng mức tăng lương trên toàn nền kinh tế cuối cùng sẽ đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2-3% một cách bền vững.

“Chúng tôi vẫn giữ quan điểm rằng RBA không có khả năng tăng lãi suất cho đến năm 2024 và việc chuyển mục tiêu sang lợi suất trái phiếu tháng 11/2024 vẫn là một rủi ro”, James McIntyre, nhà kinh tế của Bloomberg Economics cho biết.

Commonwealth Bank hôm 28/7 đã đẩy lùi thời điểm dự kiến RBA bắt đầu tăng lãi suất xuống tháng 5/2023 thay vì tháng 11/2022 như dự báo trước đó. Định chế tài chính này cũng dự báo tỷ lệ thất nghiệp tại Úc sẽ đạt đỉnh 5,6% vào tháng 10.

Trong khi đó Westpac, trong một báo cáo nghiên cứu được công bố hôm 29/7, dự báo nền kinh tế Úc sẽ giảm 2,2% trong quý hiện tại và lượng lao động mất việc làm sẽ lên tới hơn 200.000 người. Nền kinh tế sau đó dự kiến sẽ phục hồi 3% trong 3 tháng cuối năm với hơn 180.000 việc làm phục hồi.

Nhiều nhà kinh tế trong số những người được hỏi cho biết, Chính phủ là giải pháp tốt nhất để cung cấp sự hỗ trợ cần thiết cho nền kinh tế ứng phó với đợt bùng phát mới nhất.

"Gánh nặng đang đặt lên vai chính sách tài khóa", Su-Lin Ong - Trưởng bộ phận chiến lược kinh tế và thu nhập cố định của Úc tại Royal Bank of Canada cho biết. “Nó phù hợp hơn nhiều so với việc cung cấp hỗ trợ kịp thời, có mục tiêu và có tác động được điều chỉnh thích hợp với diễn biến dịch Covid-19”.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.400
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.400
57.050
Vàng SJC 5c
56.400
57.070
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800