Ngân hàng vẫn trăn trở bài toán tăng vốn

10:11 | 05/03/2021

TS. Cấn Văn Lực cho rằng, cần phải tiếp tục triển khai các giải pháp truyền thống như: Một là tìm kiếm cổ đông chiến lược, cổ đông đầu tư tài chính. Hai là, tiếp tục kiên trì bài toán cho phép giữ lại lợi nhuận từ việc chia cổ tức bằng cổ phiếu. Ba là, phát hành trái phiếu dài hạn tăng vốn cấp 2. Bốn là, kiên định đề xuất NHNN, Bộ Tài chính cho phép ngân hàng phát hành thêm cổ phiếu cho cán bộ nhân viên.

ngan hang van tran tro bai toan tang von Tăng vốn cho các ngân hàng thương mại Nhà nước: Vì lợi ích của nền kinh tế
ngan hang van tran tro bai toan tang von Làn sóng tăng vốn của các ngân hàng vẫn tiếp diễn

Trong thông báo kế hoạch ĐHĐCĐ Vietcombank năm nay, ngoài thực hiện các nội dung thường niên thì sẽ thông qua phương án tăng vốn điều lệ giai đoạn 2021-2022. Mặc dù hiện nội dung phương án tăng vốn chưa được ngân hàng thông báo; tuy nhiên theo dự báo của giới chuyên môn, nhiều khả năng ngân hàng sẽ trình cổ đông tăng vốn bằng chia cổ tức và tiếp tục đề ra phương án phát hành riêng lẻ. Mục tiêu chào bán riêng lẻ 6,5% vốn được Vietcombank đưa ra từ năm 2019, song đến nay vẫn chưa thể thực hiện.

ngan hang van tran tro bai toan tang von
Ảnh minh họa

Một ông lớn nữa là VietinBank cũng vừa thông báo kế hoạch tổ chức Đại hội cổ đông năm 2021 vào ngày 16/4/2021. Hiện VietinBank là NHTMCP có vốn nhà nước chi phối duy nhất hiện nay chưa đạt chuẩn Basel II. Theo SSI, VietinBank sẽ đảm bảo hệ số an toàn vốn (CAR) theo chuẩn Basel II sau khi tăng vốn từ chia cổ tức bằng cổ phiếu. Tuy nhiên với một ngân hàng lớn được kỳ vọng vươn tầm khu vực như VietinBank, áp lực tăng vốn vẫn rất lớn.

Tại BIDV, việc tăng tốc tín dụng cuối năm và quyết định chi trả cổ tức năm 2019 bằng tiền mặt với tỷ lệ 8%, hệ số CAR của BIDV giảm từ 8,77% tại ngày 31/12/2019 xuống 8,34% vào cuối năm 2020. Tỷ lệ vốn cấp 1 chỉ đạt 5,88%. Số dư trái phiếu cấp 2 đã gần đến giới hạn. Với hệ số CAR hiện tại, SSI ước tính, BIDV có đủ vốn để tăng trưởng tín dụng trong năm 2021. Nhưng việc tăng vốn là rất cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng trong tương lai, dễ dàng xoay xở khi thị trường có biến động.

TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cũng nhấn mạnh, tăng vốn là thách thức lớn đối với các ngân hàng trong năm 2021. Nhiều yếu tố tạo áp lực tăng vốn cho ngân hàng đó là các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng để xử lý nợ xấu. Điều này sẽ bào mòn lợi nhuận, ảnh hưởng đến năng lực tài chính. Tăng vốn cũng là điều kiện cần để đảm bảo khả năng cung tín dụng của các ngân hàng. Với tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2021 ở mức 12-13%, theo TS. Lực, vốn chủ sở hữu của các ngân hàng tăng ít nhất khoảng 7-8%.

Áp lực tăng vốn với các NHTMCP có vốn nhà nước lại càng lớn. Giới chuyên môn nhận định, với việc chiếm tới gần 50% thị phần tín dụng toàn ngành, nếu các ngân hàng này không được tăng đủ vốn, thì hệ lụy có thể xảy ra như vốn cung ứng cho nền kinh tế bị hạn chế… Ngược lại, nếu các tổ chức này dồi dào vốn, thì cơ hội giảm tiếp lãi suất, dù lãi suất đã về mức thấp kỷ lục, có thể sẽ tốt hơn.

Không chỉ giải quyết vấn đề hiện tại, việc tăng vốn còn để hiện thực hóa mục tiêu lớn hơn. Đó là Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025 định hướng phát triển đến năm 2030 và mới đây nhất là Đề án “Kế hoạch cơ cấu lại ngành dịch vụ đến năm 2020, định hướng đến năm 2025” đặt mục tiêu đến năm 2020 có ít nhất từ 1 đến 2 NHTM nằm trong top 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản trong khu vực châu Á và đến năm 2025 ít nhất 2 - 3 NHTM lọt vào top này.

Như vậy, có thể thấy vấn đề áp lực tăng vốn đối với các ngân hàng không chỉ trong năm 2021 mà cả những năm tiếp theo.

Trong số những giải pháp trên, các ngân hàng đang ưu tiên giải pháp gọi vốn ngoại. VietcapitalBank vừa chốt danh sách cổ đông để lấy ý kiến bằng văn bản ủy quyền HĐQT quyết định tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài tối đa mức 30% nhằm hút vốn ngoại, tăng vốn, nâng cao năng lực tài chính, gia tăng sự cạnh tranh. OCB cho biết, ngân hàng vẫn tiếp tục kế hoạch bán tiếp 10% cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài sau khi hoàn tất thương vụ bán 15% cổ phần cho Aozora Bank…

Theo nhận định của giới chuyên môn, việc các ngân hàng lựa chọn giải pháp này là bởi hiện thị trường chứng khoán đang khá tích cực, giá cổ phiếu ngân hàng tăng khá tốt. Trong khi nhiều ngân hàng vẫn còn nguyên room ngoại. Câu chuyện gọi vốn ngoại của các ngân hàng cũng đang được hậu thuẫn thêm từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Theo quy định tại Hiệp định này, các ngân hàng châu Âu sẽ được nâng tỷ lệ sở hữu cổ phần tại hai ngân hàng Việt Nam lên tối đa 49% mà không phải chờ quyết định nới room. Với nền tảng sức khỏe tài chính ngày càng được cải thiện rõ nét, cùng với kinh tế vĩ mô ổn định, các ngân hàng Việt Nam đã, đang và sẽ tạo sức hút nhất định đối với các nhà đầu tư ngoại. Điều này đồng nghĩa với việc khả năng thành công các kế hoạch gọi vốn ngoại của ngân hàng ngày càng cao. Song, đó chỉ là đối với những ngân hàng có năng lực tài chính tốt. Còn đối với những ngân hàng quy mô nhỏ, chất lượng hoạt động chưa tốt thì đó vẫn là nỗi trăn trở.

Để giải quyết bài toán tăng vốn, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, cần phải tiếp tục triển khai các giải pháp truyền thống như: Một là tìm kiếm cổ đông chiến lược, cổ đông đầu tư tài chính. Hai là, tiếp tục kiên trì bài toán cho phép giữ lại lợi nhuận từ việc chia cổ tức bằng cổ phiếu. Ba là, phát hành trái phiếu dài hạn tăng vốn cấp 2. Bốn là, kiên định đề xuất NHNN, Bộ Tài chính cho phép ngân hàng phát hành thêm cổ phiếu cho cán bộ nhân viên (ESOP).

TS. Lực cũng kỳ vọng, Nghị định 121/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 91/2015/NĐ-CP đã đưa nhóm ngân hàng do Nhà nước nắm giữ hơn 50% vốn điều lệ vào danh sách lĩnh vực được bổ sung vốn Nhà nước sẽ sớm được đi vào cuộc sống để gỡ “nút thắt” tăng vốn cho các ngân hàng góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cũng như các mục tiêu lớn của Ngành trong giai đoạn tới.

Phương Thảo

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.250 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.266 23.821 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.244 23.535 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.225 23.540 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.300
Vàng SJC 5c
66.300
67.320
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.400
53.000