Ngành đường và điểm dựa lưng từ quy mô

12:00 | 25/01/2019

FPTS dự đoán, nhu cầu tiêu thụ đường cả nước sẽ tăng khoảng 5% so với hiện nay vào năm 2023, tiêu thụ khoảng gần 2 triệu tấn đường từ tốc độ tăng dân số, tốc độ tăng trưởng ngành thực phẩm – đồ uống tại Việt Nam là 11%/năm (OECD); OECD cũng dự đoán tăng trưởng tiêu thụ bình quân đạt 5%/năm.

Nông dân trồng mía đối mặt với khó khăn

Theo các chuyên gia, năm 2018 là giai đoạn khó khăn của ngành đường thế giới và Việt Nam. Không chỉ đối mặt với tình trạng dư cung toàn cầu dẫn đến giá giảm, vị trí địa lý nằm gần Thái Lan - quốc gia sản xuất đường đứng thứ 4, xuất khẩu thứ 2 thế giới - cũng là một trong những nguyên nhân khiến đường nội địa sẽ gặp phải cạnh tranh lớn với đường Thái giá rẻ tràn về. Đây là đối thủ chính của toàn ngành cũng như các DN mía đường trong nước.

Nhìn lại niên vụ 2017/18, ngành đường Việt Nam đối mặt với hơn 500.000 tấn đường nhập lậu từ Thái. Bên cạnh đó là đường lỏng 0% thuế suất, không hạn ngạch từ Trung Quốc năm 2017 lên tới 89.434 tấn (bằng 7% nhu cầu sử dụng đường tại Việt Nam). Vì vậy dù niên vụ 2017/18, toàn ngành đường Việt Nam sản xuất được hơn 1,4 triệu tấn đường, cùng với lượng đường tồn kho từ vụ 2016/17 ở mức 430.000 tấn đường, ngành đường trong nước vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu 1,5 triệu tấn đường trong năm qua, song giá đường Việt Nam giảm 35% so với niên vụ 2016/17, xuống còn 11.250 đồng/kg.

Tuy nhiên, bước sang niên vụ 2018-2019, giá đường thế giới phục hồi. Tháng 10/2018, giá đường thô theo hợp đồng giao tháng 3/2019 đã tăng hơn 20% so với tháng trước, lên 13,25 Uscents/pound (6.820 đồng/kg). Theo dự báo của ISO (Hiệp hội Đường thế giới) và USDA (Bộ Nông nghiệp Mỹ), giá đường sẽ phục hồi trong niên vụ 2018/19, cung đường toàn cầu được dự báo sẽ giảm 2%, đạt 188 triệu tấn đường. Nguyên nhân là do thời tiết khô hạn khiến sản lượng sản xuất tại Brazil và EU được dự báo sẽ giảm lần lượt 12% và 4%. Giá đường thế giới giảm sâu khiến các nhà máy sản xuất đường ở các quốc gia sản xuất lớn trên thế giới Brazil, Ấn Độ và Thái Lan chuyển sang sản xuất Ethanol từ mía phục vụ nhu cầu trong nước, khiến cung đường thế giới giảm.

Từ phân tích này, Công ty chứng khoán FPTS đưa ra dự phóng, giá bán buôn đường RS tại Việt Nam tăng do việc hoãn hiệu lực của ATIGA tới hết 2020 sẽ khiến cho đường Thái chưa thể nhập khẩu vào Việt Nam qua  đường chính ngạch với số lượng lớn. Giá đường trong  nước chưa thể tăng cao nhưng sẽ phục hồi trở lại trong năm 2019. Ngành đường Việt Nam cũng còn thêm một năm thay đổi để giảm khoảng cách cạnh tranh với đường Thái Lan.

Bên cạnh đó, Hiệp hội Mía đường Việt Nam VSSA đã kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước đề xuất xây dựng cơ chế chính sách để quản lý và phát triển ngành mía đường bền vững. Nếu được phê duyệt, các chính sách này sẽ có tác động tích cực đối với toàn ngành đường Việt Nam, trong đó có: Dự thảo Nghị định Mía đường,    Quỹ phát triển mía đường, chính sách phân chia lợi nhuận giữa nhà máy đường và nông dân; Quy hoạch Mía đường đến 2020 và tầm nhìn 2030, hình thành cụm công nghiệp mía đường và điện năng đối với các ngành mía đường có công suất từ 6.000 TMN trở lên; Biện pháp phòng vệ và hạn chế đường lỏng HFCS từ Trung Quốc; Nhu cầu đường nội địa tăng trưởng 5%/năm giai đoạn 2019 - 2023.

Một động năng khác cho ngành đường là bình quân tiêu thụ theo đầu người là 16 kg/người/năm, thấp hơn trung bình thế giới 7 kg/người. FPTS dự đoán, nhu cầu tiêu thụ đường cả nước sẽ tăng khoảng 5% so với hiện nay vào năm 2023, tiêu thụ khoảng gần 2 triệu tấn đường từ tốc độ tăng dân số, tốc độ tăng trưởng ngành thực phẩm – đồ uống tại Việt Nam là 11%/năm (OECD); OECD cũng dự đoán tăng trưởng tiêu thụ bình quân đạt 5%/năm.

Tuy nhiên, cơ hội không trải đều cho các DN. Hiện cả nước có 38 nhà máy đường đang hoạt động, trong đó có 22/38 nhà máy có năng lực sản xuất ở quy mô nhỏ, dưới 3.000 TMN, với khoảng 300.000 tấn đường (28% thị phần). Phân tách về cơ hội cho thấy SBT, LSS, SLS, NIVL và KCP Việt Nam  là các DN có năng lực sản suất đường tinh luyện RE với chất lượng cao. LSS và SBT còn có thêm lợi thế sản xuất được đường organic với giá bán cao hơn đường tiêu dùng thường thấy ở mức 20 – 30% đem lại giá trị gia tăng do doanh nghiệp. LSS, SBT và QNS có thêm lợi thế về cung ứng phát điện lên lưới điện quốc gia từ việc sở hữu nhà máy mía đường công suất ép mía lớn hơn 6.000 TMN. Giá bán điện đồng phát hiện đang ở mức 5,8 Uscents/Kwh (1.350 đồng/Kwh) và đang được Chính phủ cân nhắc nâng giá bán lên bằng với giá điện sinh khối, khoảng hơn 7 Uscents/KwH (+20%).

Những tín hiệu tích cực của ngành cũng đã phản ánh trong bức tranh doanh nghiệp niên độ 2018/2019. Như SBT, báo cáo tài chính quý I niên độ 2018-2019 doanh thu thuần là hơn 2.523 tỷ đồng, tăng 62% so với cùng kỳ niên độ trước. Lợi nhuận trước thuế và sau thuế của công ty đạt lần lượt hơn 42 tỷ đồng và gần 37 tỷ đồng. Sản lượng đường đạt 174.000 tấn, tăng 83%. Các sản phẩm cạnh đường - sau đường chỉ đóng góp một phần nhỏ vào doanh thu thuần nhưng đã ghi nhận tăng trưởng tốt với  doanh thu tăng trên 290%. Đại diện công ty lạc quan, nếu vượt qua giai đoạn biến động này, công ty sẽ có cơ hội mở rộng thêm thị phần, bởi những doanh nghiệp nhỏ hoạt động chưa hiệu quả sẽ không thể chịu được sức ép của quy luật thị trường và buộc phải đóng cửa.

Hoa Hạ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.530 23.720 24.584 25.838 26.669 27.782 28016 220,20
BIDV 23.560 23.720 25.003 25.810 26.990 27.534 207,78 215,98
VietinBank 23.538 23.708 24.992 25.827 27.024 27.664 210,59 218,29
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.530 23.700 24.894 25,549 27.052 27.764 210,34 215,88
ACB 23.530 23.700 24.998 25.434 27.233 27.639 211,70 215,39
Sacombank 23.515 23.700 24.976 25.541 27.120 27.635 210,72 217,13
Techcombank 23.540 23.700 24.725 25.691 26.799 27.727 209,95 216,81
LienVietPostBank 23.530 23.710 24.908 25.563 27.092 27.687 210,51 218,88
DongA Bank 23.560 23.700 24.990 25.280 27.080 27.420 207,90 214,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.100
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.100
47.920
Vàng SJC 5c
47.100
47.920
Vàng nhẫn 9999
45.200
46.100
Vàng nữ trang 9999
44.800
45.900