Người Việt hại người Việt

10:03 | 29/11/2019

Theo các chuyên gia kinh tế, các cơ quan chức năng cần phải vào cuộc nhanh chóng để bảo vệ thương hiệu Việt không thể để doanh nghiệp lẫn người nông dân sản xuất chân chính bị thiệt hại nặng nề từ những hợp đồng cạnh tranh không lành mạnh.

Giữa tháng 11 vừa qua, lần đầu tiên gạo Việt Nam ST25 được vinh danh  gạo ngon nhất thế giới (World’s Best Rice 2019). Với thông tin này, nhiều người  hồ hởi và tìm cơ hội để thưởng thức loại gạo này, thế nhưng ngay khi vừa có tin mừng thì chỉ sau đó một ngày trên mạng xã hội, bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao đã phải lên tiếng cảnh báo mọi người vì gạo giả.

Ảnh minh họa

Theo bà Vũ Kim Hạnh, trên thị trường từ trước tới nay chỉ có nhiều gạo ST24 (là loại gạo cũng đã đoạt giải 3 gạo ngon nhất thế giới năm 2017), còn gạo ST25 thì theo nhà sản xuất là ông Hồ Quang Cua, chỉ được sản xuất với số lượng có hạn. Nguồn cung chính gạo này vẫn là từ kho của DNTN Hồ Quang Trí ở huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng và hiện đang rót hàng giới hạn cho các đại lý bán thăm dò thị trường, chứ không thể có bán tràn lan như một số nơi quảng cáo.

Từ năm 2018 đến nay loại gạo thơm ST24 được trồng tại nhiều vùng ở tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và hiện không đủ cung cấp cho thị trường thế giới và người tiêu dùng trong nước. Điều đáng nói là ngay khi có thông tin gạo ST25 đoạt giải gạo ngon nhất thế giới, nhiều chỗ bán gạo đã đưa ra thị trường loại gạo mang nhãn ST25 có giá là 35.000 đến 37.000đồng/kg, trong khi giá của loại gạo này được nhà sản xuất chính thống bán chưa tới 30.000 đồng/kg.

Là một người tâm huyết với hàng chất lượng cao - thương hiệu Việt, bà Hạnh chia sẻ thực trạng “đau lòng” khi một số doanh nghiệp tranh giành cạnh tranh không lành mạnh dẫn tới “đạp giá, đạp nhau”. Theo đó, bà Hạnh dẫn chứng gạo ST của ông Hồ Quang Cua (không tính ST24 đoạt giải) đã sản xuất và đã xuất khẩu tốt nhiều năm. Như năm 2012, gạo ST20 xuất qua Malaysia với thương hiệu độc quyền tại thị trường này suốt 7 năm liền, có năm giá bán lên đến 925 USD/tấn. Thì sau đó, một số DN Việt nhảy vào, chào giá chỉ hơn 600 USD. Cuối cùng đơn vị bán gạo ST cũng phải cắn răng giảm giá theo. Hậu quả là hiện nay, diện tích trồng ST20 đã giảm đến 90%, vì nông dân lỗ quá. Rồi năm 2015, gạo ST21 xuất khẩu thành công sang Trung Quốc với giá bán lên đến trên 700 USD, cũng bị các DN Việt khác nhảy vào chào giá dưới 500 USD làm thị trường Trung Quốc nháo nhào.

“Thiệt hại cho doanh nghiệp đã đành nhưng cái quan trọng là thiệt hại lớn cho quốc gia chúng ta vì sẽ bị mang tiếng hàng giá bèo. Với kiểu phá giá này, mỗi năm ngành gạo Việt Nam thiệt hại tối thiểu 2 tỷ USD”, bà Hạnh trăn trở.

Theo các chuyên gia kinh tế, các cơ quan chức năng cần phải vào cuộc nhanh chóng để bảo vệ thương hiệu Việt không thể để doanh nghiệp lẫn người nông dân sản xuất chân chính bị thiệt hại nặng nề từ những hợp đồng cạnh tranh không lành mạnh.

Minh Lâm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.105 23.285 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.101 23.281 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.100 23.270 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.100 23.270 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.093 23..303 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.081 23.310 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.110 23.270 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.130 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.050
50.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.050
50.450
Vàng SJC 5c
50.050
50.470
Vàng nhẫn 9999
49.850
50.400
Vàng nữ trang 9999
49.500
50.250