Nguy cơ khủng hoảng của ngành điện Trung Quốc

07:00 | 13/10/2021

Trung Quốc - nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang phải đối mặt với tình trạng thiếu điện do sự kết hợp của nhiều yếu tố. Chúng bao gồm: thời tiết khắc nghiệt, nhu cầu tăng cao đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc và nỗ lực quốc gia nhằm giảm lượng khí thải carbon, như Chủ tịch Tập Cận Bình đã đề ra.

Theo ông Vishnu Varathan, Trưởng bộ phận kinh tế và chiến lược của ngân khố châu Á và châu Đại Dương tại ngân hàng đầu tư Mizuho, Trung Quốc cần tăng cường cung cấp than để tránh suy giảm kinh tế trong quý này, nhưng mối quan hệ băng giá của Bắc Kinh với Australia có thể gây khó khăn cho điều đó. Trung Quốc rõ ràng cần nhiều than đá nhất có thể để ngăn chặn sự suy thoái trong quý IV/2021 do những căng thẳng địa chính trị với Australia đã hạn chế nguồn cung cấp than nhiệt lượng cao. Cuối năm ngoái, Trung Quốc đã ngừng mua than từ Australia (từng là nước xuất khẩu hàng hóa lớn nhất sang Trung Quốc). Nó xảy ra khi căng thẳng thương mại giữa hai nước tăng cao, sau khi Australia ủng hộ lời kêu gọi điều tra quốc tế về virus Sars-Cov2. Cho đến nay, các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh không đưa ra bất kỳ dấu hiệu nào về việc Trung Quốc có tiếp tục nhập khẩu than của Australia hay không.

nguy co khung hoang cua nganh dien trung quoc
Ảnh minh họa

Trung Quốc đã chuyển qua nhập khẩu than từ Indonesia, Mông Cổ, Nga và các nước khác để cố gắng bù đắp sự thiếu hụt. Năm ngoái, các báo cáo cho biết các công ty khai thác than Indonesia đã ký một thỏa thuận cung cấp trị giá 1,5 tỷ USD với Trung Quốc. Indonesia có vị thế tốt để hưởng lợi từ nhu cầu này, nhưng khả năng đáp ứng các lô hàng lại có thể là một điểm nghẽn. Trung Quốc cũng đang đối mặt với rủi ro trong việc cần mua than nhanh chóng do vướng phải nhiều ràng buộc.

Ông Ting Lu, Trưởng nhóm Kinh tế Trung Quốc của Nomura đã dự báo, tăng trưởng GDP của Trung Quốc sẽ giảm trong năm nay khi nhiều nhà máy sẽ đóng cửa để tuân thủ các mục tiêu giảm phát thải carbon. Cùng với đó, thị trường hiện đang bối rối trước sự suy thoái của lĩnh vực bất động sản đến mức họ có thể bỏ qua các biện pháp hạn chế chưa từng có của Bắc Kinh về mức tiêu thụ năng lượng và cường độ sử dụng năng lượng. Do đó, kỳ vọng GDP của Trung Quốc sẽ chỉ tăng 7,7% trong năm nay, giảm so với mức 8,2% dự báo trước đó.

Theo ông Kevin Xie, chuyên gia kinh tế cấp cao về châu Á tại Commonwealth Bank of Australia, Trung Quốc có thể tăng giá nhiều mặt hàng xuất khẩu, dẫn đến lạm phát tiêu dùng ở các nền kinh tế phụ thuộc. Việc hạn chế cung cấp điện sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và làm trầm trọng thêm tình trạng khó khăn. Các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất, ước tính sẽ ảnh hưởng tới khoảng 14% GDP của Trung Quốc.

Trung Quốc là một cường quốc công nghiệp và là nước thải ra khí cacbonic lớn nhất hành tinh. Quốc gia này sản xuất phần lớn điện năng bằng các nhà máy điện than, nhưng hiện nguồn nguyên liệu than đang cạn kiệt.

Hải Thanh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.930 23.200 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.950 23.190 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.939 23.199 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.730 22.940 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.950 23.160 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.960 23.160 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.980 23.200 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.934 23.185 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.990 23.190 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.010 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.750
61.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.750
61.450
Vàng SJC 5c
60.750
61.470
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.400
Vàng nữ trang 9999
51.400
52.100