Nhật Bản giữ nguyên đánh giá về kinh tế dù lạm phát tăng cao

07:40 | 25/11/2022

Chính phủ Nhật Bản giữ nguyên nhận định đối với hầu hết các yếu tố trong nền kinh tế, từ xuất khẩu cho tới chi tiêu của doanh nghiệp, nhưng điều chỉnh đánh giá về đầu tư công.

nhat ban giu nguyen danh gia ve kinh te du lam phat tang cao
Người dân mua hàng trong siêu thị tại Tokyo, Nhật Bản. (Ảnh: Kyodo/TTXVN)

Văn phòng Nội các Nhật Bản vừa công bố báo cáo đánh giá tình hình kinh tế trong nước tháng 11/2022, trong đó giữ nguyên nhận định rằng nền kinh tế lớn thứ ba thế giới đang phục hồi vừa phải bất chấp việc lạm phát tăng cao.

Đây là tháng thứ năm liên tiếp Chính phủ Nhật Bản giữ nguyên nhận định về nền kinh tế trong báo cáo hằng tháng.

Trong báo cáo trên, Chính phủ Nhật Bản giữ nguyên nhận định đối với hầu hết các yếu tố trong nền kinh tế, từ xuất khẩu cho tới chi tiêu của doanh nghiệp, nhưng điều chỉnh đánh giá về đầu tư công. Xuất khẩu "gần như không thay đổi”.

Trong số các yếu tố chủ chốt của nhu cầu trong nước, đầu tư kinh doanh đang "tăng lên", trong khi tiêu dùng cá nhân, vốn chiếm hơn 50% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Nhật Bản, đang phục hồi "ở mức độ vừa phải".

Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản tiếp tục cảnh báo về những biến động trên thị trường tài chính sau khi đồng yen giảm mạnh so với đồng USD.

Báo cáo lưu ý: “Nền kinh tế Nhật Bản đang phục hồi vừa phải… Cần chú ý đầy đủ vấn đề tăng giá, căng thẳng về nguồn cung và biến động trên thị trường tài chính và vốn”.

Báo cáo được công bố trong bối cảnh ngày càng có nhiều lo ngại rằng việc các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới liên tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát sẽ làm chậm tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Kể từ đầu năm tới nay, Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã thực hiện 6 đợt tăng lãi suất liên tiếp, trong khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) vẫn kiên định với chính sách tiền tệ siêu lỏng để hỗ trợ nền kinh tế.

Điều này đã khiến khoảng cách lãi suất giữa hai nền kinh tế liên tục nới rộng, dẫn tới đồng yen liên tục mất giá so với đồng USD.

Sự mất giá mạnh của đồng yen đi kèm với việc giá nhiên liệu, nguyên vật liệu thô và lương thực trên thế giới tăng cao đã khiến giá hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn, đẩy lạm phát ở Nhật Bản tăng lên mức cao nhất trong 40 năm qua.

Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng âm 1,2% trong quý 3 năm nay.

Sau sự sụt giảm bất ngờ này, các nhà kinh tế kỳ vọng nền kinh tế Nhật Bản sẽ quay lại quỹ đạo tăng trưởng dương trong quý cuối năm nay.

Mặc dù vậy, trong những tuần gần đây, Nhật Bản chứng kiến sự gia tăng trở lại số ca mắc mới COVID-19.

Nhiều chuyên gia y tế cho rằng nước này đã bước vào "làn sóng lây nhiễm thứ 8" của dịch COVID-19.

Dịch bệnh tái bùng phát khiến không ít người lo ngại tác động tiêu cực đối với chi tiêu dùng cá nhân.

Ngày 28/10 vừa qua, Chính phủ Nhật Bản đã thông qua gói kích thích kinh tế có tổng trị giá lên tới 71.600 tỷ yen (hơn 490 tỷ USD) nhằm giảm bớt tác động của tình trạng giá cả hàng hóa leo thang tới các hộ gia đình và doanh nghiệp trong nước, đồng thời hỗ trợ đà phục hồi vẫn còn mong manh của nền kinh tế.

Trong gói kích thích kinh tế này, tổng chi tiêu công, bao gồm đầu tư công và cho vay cũng như các khoản chi của các chính quyền địa phương, lên tới 39.000 tỷ yen; phần còn lại là các khoản chi của khu vực tư nhân.

Sau đó, Chính phủ Nhật Bản đã trình Quốc hội dự thảo ngân sách bổ sung thứ hai trong tài khóa 2022 có tổng trị giá 29.100 tỷ yen (gần 200 tỷ USD) để tài trợ cho gói kích thích kinh tế này.

Nguồn: TTXVN

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000