Par-Index: Cải cách hành chính của bộ, ngành, địa phương có nhiều điểm sáng

10:23 | 19/05/2020

Sáng ngày 19/5/2020, Bộ Nội vụ đã công bố Kết quả Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) năm 2019 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Par-Index 2019). Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dẫn đầu bảng xếp hạng Par-Index khối các bộ, cơ quan ngang bộ với Chỉ số CCHC năm 2019 cao nhất với kết quả là 95,40%, điểm điều tra xã hội học đạt cao nhất trong các bộ ngành với 34,11 điểm phần trăm.

par index cai cach hanh chinh cua bo nganh dia phuong co nhieu diem sang
Ảnh minh họa

Không còn bộ, ngành có kết quả dưới 80%

Báo cáo tại Hội nghị công bố Par-Index 2019, ông Phạm Minh Hùng, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo CCHC của Chính phủ, cho biết: “Công tác CCHC năm 2019 tiếp tục được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm, chỉ đạo rất quyết liệt và có trọng tâm, trọng điểm. Các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh CCHC được các bộ, ngành, địa phương triển khai nghiêm túc, đồng bộ và có nhiều đổi mới, sáng tạo. Trong quá trình triển khai thực hiện, các bộ, ngành, địa phương đã tăng cường khảo sát thực tế, học tập, chia sẻ kinh nghiệm, sáng kiến để nghiên cứu, áp dụng tại bộ, địa phương mình, giúp kết quả CCHC có nhiều chuyển biến tích cực. Qua đánh giá, số lượng sáng kiến, giải pháp hay về CCHC đang ngày càng được nhân rộng, lan tỏa đến nhiều địa phương trong cả nước”.

Với những đổi mới, điều chỉnh kịp thời, kết quả xác định Chỉ số CCHC năm 2019 đã phản ánh sát với thực tiễn kết quả triển khai nhiệm vụ CCHC diễn ra tại các bộ, ngành, địa phương trong năm đánh giá. Đặc biệt, Báo cáo này đã bổ sung các phân tích, so sánh kết quả giữa các địa phương, giữa các vùng kinh tế, giúp các tổ chức, cá nhân, đội ngũ nhà quản lý, nghiên cứu khoa học có được góc nhìn toàn diện, đa chiều và thực chất về kết quả đạt được, thuận lợi, khó khăn vướng mắc của từng vùng, miền; góp phần nâng cao hiệu quả tham mưu xây dựng, ban hành và triển khai các chính sách CCHC. Kết quả đánh giá đã ghi nhận sự tiến bộ, tích cực trong cả 6 nội dung CCHC mà các bộ, tỉnh đã đạt được.

Với Chỉ số CCHC năm 2019, không có bộ nào có kết quả dưới 80%. Chỉ số CCHC năm 2019 các bộ tập trung vào 2 nhóm điểm, trong đó Nhóm A, đạt Chỉ số CCHC trên 90%, chỉ có 3 đơn vị là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ Tài chính; Bộ Tư pháp. Nhóm B gồm 14 bộ còn lại với Chỉ số CCHC từ trên 80% đến dưới 90%. Giá trị trung bình Chỉ số CCHC của 17 bộ, cơ quan ngang bộ năm 2019 là 85,63%, tăng 2,95% so với năm 2018 (giá trị trung bình năm 2018 là 82,68%). Bộ Giao thông vận tải có kết quả Chỉ số CCHC thấp nhất với giá trị 80,53%.

par index cai cach hanh chinh cua bo nganh dia phuong co nhieu diem sang

16/17 đơn vị có Chỉ số CCHC tăng hơn so với năm 2018, trong đó, Bộ Giao thông vận tải có giá trị điểm số tăng 5,4% so với năm 2018, là đơn vị có điểm số tăng cao nhất so với các bộ, cơ quan ngang bộ. Khoảng cách giữa bộ đạt Chỉ số CCHC năm 2019 cao nhất (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) với bộ có kết quả Chỉ số CCHC năm 2019 thấp nhất (Bộ Giao thông vận tải) là 14,87% (năm 2018 khoảng cách này là 15,44% và năm 2017 là 20,23%). Điều này cho thấy các bộ đã có nhiều sự cải thiện về điểm số, phản ánh những nỗ lực cải cách mạnh mẽ của nhiều bộ, ngành trong năm vừa qua.

Ngay cả Ngân hàng Nhà nước cũng có sự bứt phá mạnh mẽ trong CCHC với điểm số tăng mạnh 4,83 điểm, từ 90,57% lên 95,40%. 5/7 chỉ số cải cách thành phần của Ngân hàng Nhà nước xếp thứ nhất là: “Công tác chỉ đạo, điều hành CCHC” đạt điểm tối đa 100%; “Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ” đạt 92,41%; “Cải cách thủ tục hành chính” đạt 96,64%; “Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước” đạt 94,38%; “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức” là 96,68%.

Chánh văn phòng Ban chỉ đạo CCHC của Chính phủ,Thứ trưởng Bộ nội vụ Phạm Minh Hùng lưu ý: “6/7 chỉ số thành phần có giá trị trung bình tăng hơn so với năm 2018”. Trong đó, chỉ số thành phần “Công tác chỉ đạo, điều hành CCHC” có giá trị tăng cao nhất là 7,06% (từ 87,65% năm 2018 lên 94,71% năm 2019). Kết quả này cho thấy những nỗ lực của các bộ, cơ quan trong công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính, thúc đẩy triển khai các nhiệm vụ cải cách hành chính thông qua các nội dung kiểm tra, tuyên truyền cải cách hành chính, nâng cao chất lượng công tác ban hành kế hoạch và hoàn thành các mục tiêu kế hoạch cải cách hành chính đã ban hành.

Có 9/17 bộ, cơ quan ngang bộ đạt tỷ lệ 100% số điểm tại chỉ số thành phần “Công tác chỉ đạo, điều hành CCHC”. Tình trạng không hoàn thành nhiệm vụ hoặc thực hiện quá hạn nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao tiếp tục giảm đáng kể.

Chỉ số thành phần “Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ” có giá trị trung bình thấp nhất là 79,16%; tuy nhiên, chỉ số thành phần này của năm 2019 đã tăng 3,9% so với năm 2018 (từ 75,26% lên 79,16%).

Các bộ, ngành cũng đã có nhiều kết quả tích cực trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong năm theo chương trình xây dựng pháp luật đã được phê duyệt; theo dõi thi hành pháp luật; xử lý văn bản quy phạm pháp luật sau rà soát và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Các bộ, cơ quan ngang bộ cũng đã chú trọng việc trả lời kiến nghị của cá nhân, tổ chức, kịp thời trả lời những kiến nghị, giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong tổ chức thực hiện thể chế, chính sách của các cơ quan thuộc hệ thống quản lý ngành tại địa phương, giúp cho địa phương thuận lợi hơn trong công tác quản lý nhà nước.

Chỉ số thành phần “Cải cách thủ tục hành chính” tăng so với năm 2018, đạt 84,69%. Năm 2019 là năm đầu tiên đánh giá tiêu chí thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông. Kết quả cho thấy, có đến 15/17 đạt tỷ lệ 100% điểm số.

Các chỉ số thành phần “Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước” (đạt 89,76%) và “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức” (đạt 84.38%) đã tăng lên đáng kể so với năm 2018.

Khoảng cách cải cách giữa các địa phương ngày một thu hẹp

Theo đánh giá, Chỉ số CCHC 2019 của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có kết quả đạt giá trị trung bình là 81,15%, cao hơn 4,23% so với giá trị trung bình năm 2018 (đạt 76,92%) và là kết quả cao nhất trong 4 năm gần đây. Kết quả Chỉ số CCHC 2019 của các tỉnh, thành phố được phân theo 3 nhóm, trong đó: Nhóm A, đạt kết quả Chỉ số từ 90% trở lên chỉ có tỉnh Quảng Ninh; Nhóm B, đạt kết quả Chỉ số từ 80% đến dưới 90% gồm 43 tỉnh, thành phố. Nhóm C, đạt kết quả Chỉ số từ 70% đến dưới 80% gồm có 19 tỉnh, thành phố.

So sánh giữa 63 địa phương, có 30 đơn vị đạt kết quả Chỉ số cao hơn giá trị trung bình của cả nước. Đáng chú ý, năm 2019 có 44 đơn vị đạt kết quả Chỉ số trên 80%, năm 2018 chỉ có 9 đơn vị đạt kết quả trong nhóm này. Điểm tích cực khác đó là, trong năm 2019 không có địa phương nào đạt kết quả dưới 70%, trong khi năm 2018 có tới 3 đơn vị thuộc nhóm này (Phú Yên, Kon Tum, Trà Vinh).

Khoảng cách kết quả Chỉ số giữa đơn vị cao nhất và đơn vị thấp nhất trong bảng xếp hạng là 16,22%, tiếp tục được thu hẹp đáng kể so với các năm trước (khoảng cách giữa đơn vị cao nhất - thấp nhất năm 2018 là 19,53%; năm 2017 là 29,76% và năm 2016 là 27,77%).

par index cai cach hanh chinh cua bo nganh dia phuong co nhieu diem sang

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra, năm 2019, số lượng đơn vị có điểm đánh giá tăng so với năm 2018 là 62 tỉnh, thành phố, cao hơn nhiều so với kết quả đánh giá năm 2018 (chỉ có 19 đơn vị tăng điểm so với năm 2017). Trong số các đơn vị tăng điểm của năm 2019, Trà Vinh là đơn vị tăng cao nhất (+9,04), tăng thấp nhất là Cần Thơ (+0,15).

Địa phương duy nhất có kết quả điểm đánh giá năm 2019 giảm so với 2018 là Đà Nẵng (-0,03); tuy nhiên, số giảm là không đáng kể và Đà Nẵng vẫn nằm trong nhóm 10 địa phương đạt kết quả Chỉ số CCHC cao nhất cả nước.

Theo kết quả xếp hạng, tỉnh Quảng Ninh tiếp tục có lần thứ 3 liên tiếp đứng đầu bảng xếp hạng Chỉ số CCHC 2019, với kết quả đạt 90,09%, cao hơn 5,45% so với đơn vị đứng ở vị trí thứ 2 là Hà Nội, đạt 84,64%. Năm 2019, Quảng Ninh tiếp tục là một trong những địa phương đi đầu triển khai các nhiệm vụ CCHC mới do Trung ương triển khai, như: Là một trong 3 tỉnh, thành phố được chọn thí điểm cung cấp một số dịch vụ công trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia; thực hiện thí điểm mô hình Trung tâm Truyền thông tỉnh đầu tiên trong cả nước trên cơ sở hợp nhất các cơ quan báo chí cấp tỉnh; tiên phong đăng ký thí điểm hợp nhất các sở, ngành có chức năng tương đồng theo chủ trương của Trung ương.

Kết quả cải cách đã có những đóng góp tích cực trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, được người dân, doanh nghiệp đánh giá rất cao. Tỉnh Đồng Tháp tiếp tục duy trì vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng, với kết quả Chỉ số CCHC đạt 84.43%, tăng cao hơn 0,72% so với năm 2018.

Vị trí thứ 4 và thứ 5 trên bảng xếp hạng Chỉ số CCHC 2019 lần lượt thuộc về Hải Phòng (84,35%) và Long An (84.33%). Đây cũng là những đơn vị có nhiều đổi mới, sáng tạo trong thực hiện CCHC những năm gần đây.

Bến Tre là địa phương xếp vị trí thứ 63/63 tỉnh, thành phố, với kết quả đạt 73,87%. Chi tiết kết quả đánh giá cũng cho thấy, công tác CCHC năm 2019 trên địa bàn tỉnh Bến Tre còn khá nhiều tồn tại, hạn chế, như: Không hoàn thành một số nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; chậm xử lý các văn bản trái pháp luật và những hạn chế, bất cập đã được cơ quan thanh tra, kiểm tra có thẩm quyền chỉ ra trong năm 2019; không kịp thời công bố, công khai thủ tục hành chính theo quy định; nhiều nhiệm vụ về quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công chưa hoàn thành hoặc thực hiện chưa đúng quy định...

So sánh kết quả Chỉ số CCHC giữa các vùng kinh tế, năm 2019, giá trị trung bình Chỉ số CCHC của cả 6 khu vực kinh tế đều tăng cao hơn so với năm 2018, trong đó, 5/6 khu vực đạt giá trị trung bình trên 80%. Khu vực Đồng bằng sông Hồng và khu vực Đông Nam bộ vẫn là 2 vùng kinh tế có giá trị trung bình cao nhất, lần lượt đạt 82,95% và 82,02%; xếp ở vị trí thứ 3, thứ 4 và thứ 5 lần lượt là khu vực Trung du và miền núi phía Bắc đạt 80,97%, khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung đạt 80,76% và khu vực Tây Nam bộ đạt 80,42%. Tây Nguyên là khu vực đạt giá trị trung bình thấp nhất với kết quả 79,63%, nhưng so sánh về giá trị tăng thêm giữa 2019 và 2018 thì đây lại là khu vực có giá trị trung bình tăng cao nhất (+6,53%).

Nhất Thanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.200 23.410 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.230 23.410 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.213 23.403 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.220 23.370 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.210 23.380 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.210 23.380 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.215 23.425 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.198 23.398 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.230 23.400 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.260 23.390 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.340
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.340
48.750
Vàng SJC 5c
48.340
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.480
48.180
Vàng nữ trang 9999
47.180
47.980