Phát triển chuỗi giá trị thực phẩm

09:20 | 07/02/2020

Vài năm trở lại đây, kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng tốt. Nhu cầu tiêu dùng nông sản, thực phẩm ngay tại Việt Nam cũng tăng cao. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sản phẩm sạch và an toàn khiến ngành nông nghiệp và chế biến nông sản, thực phẩm càng trở nên hấp dẫn hơn với nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Theo ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ NN&PTNT), năm 2019 tổng giá trị xuất khẩu nông nghiệp đạt mức kỷ lục với 41,3 tỷ USD. Đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế của Việt Nam ngày càng nhanh và sâu rộng, đặc biệt, Việt Nam đang là đối tác thương mại tự do với nhiều quốc gia, vùng kinh tế trọng điểm của thế giới. Điều này cũng chứng tỏ tiềm năng xuất khẩu nông sản và sản phẩm chế biến của Việt Nam ra thế giới còn rất lớn. Tuy nhiên, những kết quả đạt được vẫn chưa xứng với tiềm năng hiện có.

Ở chiều ngược lại, bối cảnh hội nhập kinh tế buộc ngành nông nghiệp Việt Nam vừa phải thích ứng nhanh với biến đổi khí hậu vừa phải có bước chuyển nhanh sang giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn. Nếu như trước đây người nông dân Việt Nam làm nông nghiệp chỉ đảm bảo đủ ăn và tiêu dùng, thì nay người nông dân mong muốn làm giàu từ nông nghiệp. Đây cũng là nhu cầu chính đáng của người dân và ngành nông nghiệp giai đoạn tới phải đạt được mục tiêu này.

Mặc dù xuất khẩu nông sản tăng trưởng khá nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định như mới chỉ xuất khẩu các sản phẩm thô; 80% sản phẩm nông nghiệp chưa có thương hiệu, logo và nhãn hiệu; công tác dự báo thị trường và thống kê còn yếu, giá cả không ổn định, ông Tuấn chia sẻ thêm.

Cần tập trung nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm thực phẩm

Hiện tại, sản xuất nông nghiệp chủ yếu là quy mô hộ gia đình, còn ít doanh nghiệp tham gia, ít chuỗi giá trị; thiếu liên kết giữa doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa địa phương, tổ chức nông dân; công nghệ chế biến còn hạn chế. Ngoài ra, việc áp dụng khoa học tiên tiến vào sản xuất chế biến, bảo quản vẫn còn hạn chế, chưa tạo được bước đột phá. Chính vì vậy, đây là lĩnh vực cần tăng cường hợp tác quốc tế trong thời gian tới, đặc biệt cần sự hợp tác chia sẻ từ các doanh nghiệp Nhật Bản, tập trung vào tiếp cận thị trường, xây dựng sàn giao dịch thương mại, sàn giao dịch hàng hóa, phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Trong khi Nhật Bản lại là nước công nghiệp phát triển, có nền nông nghiệp hiện đại và có nhiều lợi thế trong áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Trên thực tế, nông nghiệp Nhật Bản vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, thậm chí hàng năm vẫn phải nhập khẩu các mặt hàng nông sản. Đây được coi là cơ hội, lợi thế của Việt Nam để mở rộng xuất khẩu hàng hóa nông sản vào Nhật Bản.

Vì vậy, trong chiến lược xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm của khu vực, Nhật Bản đang đẩy mạnh các dự án hỗ trợ, hợp tác với doanh nghiệp, nông dân Việt Nam xây dựng chuỗi giá trị  thực phẩm tại Việt Nam thông qua đẩy mạnh đầu tư tư nhân vào nông nghiệp, hoàn thiện hạ tầng sản xuất và hệ thống phân phối sản phẩm nông sản.

Ông Naomichi Murooka, Phó Trưởng đại diện JICA tại Việt Nam cho biết, hiện nay Nhật Bản là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam với nhiều dự án phát triển chuỗi giá trị nông sản chất lượng cao như rau, hoa tại Lâm Đồng, chăn nuôi tại Đồng Nai...

Nhận thấy thực phẩm sạch có tiềm năng lớn tại thị trường Việt Nam, góp phần phát triển nông nghiệp, giúp nông dân làm giàu, Nhật Bản đã tích cực hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển chuỗi giá trị thực phẩm, góp phần đưa quan hệ Việt Nam - Nhật Bản lên tầm đối tác chiến lược

Giai đoạn 2015-2019, JICA đã và đang triển khai nhiều dự án hỗ trợ xây dựng chuỗi giá trị thực phẩm từ sản xuất, chế biến, phân phối đến tiêu thụ và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản, thực phẩm giúp nhiều địa phương xác định được lợi thế cũng như nâng cao giá trị gia tăng, tiến tới phát triển nông nghiệp bền vững thông qua một loạt các dự án. Như nâng cao độ tin cậy trong lĩnh vực sản xuất cây trồng an toàn tại khu vực phía Bắc, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng và cải tạo hệ thống thủy lợi tại tỉnh Nghệ An, hỗ trợ biện pháp phòng chống xâm nhập mặn tại tỉnh Bến Tre, hỗ trợ xây dựng 8 bước chiến lược phát triển nông nghiệp tại tỉnh Lâm Đồng… Hay hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (vùng ĐBSCL), phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại một số khu vực thí điểm đã được thực hiện.

Đặng Duy

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.380 23.590 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.390 23.570 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.385 23.575 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.430 23.600 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.430 23.600 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.415 23.600 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.380 23.580 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.380 23.560 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.450 23.590 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.000
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.000
47.900
Vàng SJC 5c
47.000
47.920
Vàng nhẫn 9999
44.700
45.700
Vàng nữ trang 9999
44.400
45.500