Quy định mới về thanh khoản đối với các ngân hàng phố Wall

10:27 | 22/10/2020

Các ngân hàng phố Wall sẽ phải chứng tỏ nguồn vốn của họ có thể chịu được cuộc căng thẳng kinh tế kéo dài tới 12 tháng.

Quy định mới được Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC) ở Washington thông qua hôm thứ Ba (20/10), yêu cầu 20 trong số các định chế cho vay lớn nhất của Mỹ phải có các nguồn tài trợ ổn định - chẳng hạn như nợ dài hạn và tiền gửi của khách hàng - trong trường hợp căng thẳng thanh khoản kéo dài hàng năm.

quy dinh moi ve thanh khoan doi voi cac ngan hang pho wall
Ảnh minh họa

Quy định này, đã được Văn phòng Cơ quan Kiểm soát Tiền tệ phê duyệt và Cục Dự trữ Liên bang dự kiến sẽ ký kết, cũng có thể yêu cầu một số định chế cho vay phải tăng thêm hàng tỷ USD tài sản có tính thanh khoản cao.

Cái gọi là tỷ lệ quỹ bình ổn ròng (net stable funding ratio – NSFR), được đề xuất bởi các cơ quan quản lý của Mỹ cách đây 4 năm, bắt đầu hình thành sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 như một nỗ lực toàn cầu được Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng đồng ý. Quy tắc mà Tập đoàn bảo hiểm vừa thông qua và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7 năm tới cũng tương tự như đề xuất trước đó, mặc dù nó xem trái phiếu Kho bạc cũng có vai trò như dự trữ tiền mặt để loại bỏ động cơ khuyến khích các ngân hàng bán phá giá trái phiếu kho bạc.

Trên thực tế nhiều ngân hàng như JPMorgan Chase & Co., Citigroup Inc., Bank of America Corp. và Goldman Sachs Group Inc. đã hoạt động theo một quy định tương tự được gọi là tỷ lệ bao thanh khoản, trong đó yêu cầu các ngân hàng phải đáp ứng tỷ lệ dự trữ thanh khoản ngắn hạn.

Theo các nhà quản lý ngân hàng, hiện hầu hết các tổ chức cho vay lớn đều đáp ứng nhu cầu về tỷ lệ quỹ bình ổn ròng, các nhà quản lý cho biết. Tính chung ngành công nghiệp tài chính của Mỹ đã vượt hơn 1 nghìn tỷ USD so với yêu cầu thanh khoản, tuy nhiên một số ít các tổ chức không tên tuổi vẫn ở dưới mức yêu cầu. Ít nhất một ngân hàng cần tăng thêm 8% và những tổ chức cho vay thiếu hụt thanh khoản có thể được yêu cầu tăng tổng cộng hơn 31 tỷ USD, theo các cơ quan quản lý.

Tuy nhiên, quy định mới đang vấp phải nhiều sự chỉ trích. Viện Chính sách Ngân hàng (BPI) và các nhà vận động hành lang trong ngành từ lâu đã chỉ trích tỷ lệ quỹ bình ổn ròng là không cần thiết. Một báo cáo gần đây từ BPI một lần nữa đã chỉ trích yêu cầu này, gọi đó là sự “liều lĩnh” khi lập luận rằng nó sẽ khiến các ngân hàng khó đóng góp thanh khoản hơn cho thị trường trái phiếu Kho bạc đang bị căng thẳng - như đã từng xảy ra vào tháng 9 năm ngoái và tháng 3 năm nay.

Các nhà quản lý cũng đã thông qua một quy tắc cuối cùng vào thứ Ba nhằm hạn chế mức độ kết nối của các ngân hàng lớn nhất với nhau. Theo đó các ngân hàng sẽ phải chịu phí vốn cao hơn nếu họ mua nợ của một ngân hàng khác được thiết kế để đáp ứng các yêu cầu về tổng khả năng hấp thụ tổn thất.

Trong một động thái liên quan, Phó Chủ tịch Fed Randal Quarles cũng cho biết hôm thứ Ba rằng, những căng thẳng trên thị trường do đại dịch coronavirus cho thấy hệ thống tài chính phi ngân hàng “mong manh hơn đáng kể” so với hệ thống tài chính truyền thống.

Theo Quarles, mặc dù các giải pháp từ các ngân hàng trung ương và các cơ quan quản lý đã giúp giảm bớt bất ổn thị trường, tuy nhiên các sự kiện gần đây cho thấy các cơ quan quản lý toàn cầu có “việc phải làm” để củng cố các tổ chức tài chính phi ngân hàng, bao gồm cả việc cải thiện khả năng phục hồi của các quỹ thị trường tiền tệ.

“Mặc dù hành động chính sách nhanh chóng và dứt khoát đã thành công trong việc xoa dịu thị trường, nhưng điều này không có nghĩa là công việc của chúng ta đã hoàn thành. Trong khi hành động của ngân hàng trung ương đã thành công trong việc khôi phục hoạt động của thị trường, sự hỗ trợ này không giải quyết được các lỗ hổng cơ bản”, ông nói và thêm rằng: “Việc giải quyết các lỗ hổng trong hệ thống tài chính trong tương lai... đòi hỏi một quan điểm tổng thể dựa trên các mối liên kết khác nhau trong trung gian tài chính phi ngân hàng và giữa các ngân hàng với các ngân hàng”.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.960 23.170 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.980 23.180 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.970 23.180 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.973 23.185 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.969 23.169 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.980 23.160 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.000 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.460
55.850
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.460
55.830
Vàng SJC 5c
55.460
55.830
Vàng nhẫn 9999
52.730
53.330
Vàng nữ trang 9999
52.330
53.030