Quyết định hợp lý cả về thời điểm và mức độ

07:00 | 18/03/2020

Để phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính quốc tế và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, NHNN ngày 16/3 đã quyết định điều chỉnh các mức lãi suất điều hành (từ 0,5-1%), có hiệu lực từ ngày 17/3/2020.

Giảm lãi suất điều hành: Chặn đà suy thoái, đón đầu cho sự hồi phục
Nhiều ngân hàng giảm lãi suất tiền gửi theo chỉ đạo của NHNN
Giảm lãi suất quyết liệt, kịp thời, không gây áp lực đến lạm phát

Đánh giá về quyết định vừa đưa ra của NHNN, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính, Học viện Tài chính cho rằng các mức cắt giảm như vậy là vừa phải, phù hợp với bối cảnh hiện nay, không gây tác động tiêu cực đến mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong đó có lạm phát, tỷ giá cũng như sẽ không tác động nhiều đến mặt bằng lãi suất trung, dài hạn. “Nếu tốc độ tăng CPI trung bình năm 2020 xoay quanh mức 4%, thì một số lãi suất điều hành như lãi suất tái cấp vốn, trần lãi suất tiền gửi ngắn hạn sau khi điều chỉnh vẫn ở mức thực dương. Chưa kể các lãi suất huy động và cho vay trung, dài hạn vẫn được neo ở mức cao, nên quyết định hạ lãi suất điều hành vừa qua sẽ không ảnh hưởng nhiều đến lạm phát trong thời gian tới”.

Lãi suất điều hành giảm sẽ làm giảm chi phí vốn cho ngân hàng

Về tỷ giá, chuyên gia này nhận định về tổng thể trong năm 2020 tỷ giá sẽ vẫn ổn định bởi một mặt NHNN rất thận trọng trong việc sử dụng chính sách tỷ giá để hỗ trợ nền kinh tế, mặt khác cung - cầu ngoại tệ nhiều khả năng sẽ không gặp phải chênh lệch và cán cân thương mại hiện vẫn cân bằng (xuất khẩu tăng chậm nhưng nhu cầu nhập khẩu cũng chậm lại). Lượng dự trữ ngoại hối lớn hiện nay sẽ giúp NHNN đảm bảo mục tiêu ổn định tỷ giá, trong khi các nguồn ngoại tệ khác như kiều hối, FDI năm nay có thể không cao như năm ngoái nhưng khả năng vẫn ổn.

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, mức độ điều chỉnh lãi suất như vậy là đủ lớn và phù hợp. “Khi lãi suất điều hành giảm sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến các hoạt động vay mượn trên hệ thống liên ngân hàng, qua đó giúp giảm chi phí cho các ngân hàng. Điều đó cũng sẽ tác động gián tiếp đến giảm lãi suất trên thị trường dân cư, và tạo ra tác động tổng thể đến giảm mặt bằng lãi suất cho cả nền kinh tế. Đó là điểm tốt”, TS. Hiếu phân tích.

Tuy nhiên theo chuyên gia này, giảm lãi suất, tăng thanh khoản cho nền kinh tế dù cũng cần thiết, nhưng bài toán lúc này cần sự trợ lực của chính sách tài khóa (CSTK) và các chính sách vĩ mô khác. “Cần theo sát diễn tiến dịch bệnh để ứng phó phù hợp và có thể cần có những gói hỗ trợ mạnh từ phía tài khóa. Không chỉ giảm thuế, giãn thuế mà Chính phủ cần tính đến cả các gói hỗ trợ mạnh hơn cho DN”.

Chuyên gia này cho rằng, hiện nhiều DN đang có những nhu cầu cấp bách như: Trả lương cho người lao động; Thanh toán cho các nhà cung cấp; Trả nợ ngân hàng; Trả các loại nợ và chi phí khác, như đóng thuế cho Nhà nước.

“Trong lúc khó khăn hiện nay, việc ngân hàng có thể hoãn, giãn nợ cho họ là rất tốt; Chính phủ có thể giãn, giảm thuế cũng rất tốt. Thế nhưng DN cũng rất cần tiền để trả lương người lao động, để thanh toán cho các nhà cung cấp (mà lúc này vì không kinh doanh được nên không có nguồn thu để trả) và những cái đó có thể khiến DN “mất máu” - mất thanh khoản rất nhanh. Không trả được lương thì nhân viên sẽ nghỉ việc, không trả được tiền nợ cho nhà cung cấp thì sẽ bị cắt hàng hóa đầu vào… mà như vậy thì DN sẽ càng lâm vào khó khăn, tạo ra vòng xoáy hệ lụy”, TS. Hiếu phân tích và đề xuất, Chính phủ có thể nghiên cứu bổ sung nguồn vốn cho Quỹ Bảo lãnh tín dụng để giúp các DN vượt qua nguy cơ mất thanh khoản, vượt qua giai đoạn khó khăn này.

“Trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi cho rằng CSTK nên được ưu tiên hơn là CSTT, do hiệu quả tức thì, ít độ trễ hơn của CSTK. Đồng thời, phải kết hợp hài hòa CSTT và CSTK thì hiệu quả hỗ trợ mới tốt hơn”, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đưa ra đề xuất trong một báo cáo mới đây.

Bên cạnh đó, cần thực hiện quyết liệt, hiệu quả Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 4/3/2020 về các giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19 và Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 11/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới. “Làm sao chính sách đi vào cuộc sống sớm nhất, nhanh và đúng đối tượng, sẽ là liều vaccine tốt nhất trong bối cảnh hiện nay”, TS. Cấn Văn Lực nói.

Ngày 16/3/2020, NHNN đã có các quyết định cắt giảm lãi suất. Trong đó, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 6% xuống 5%; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng từ 7,0%/năm xuống 6,0%/năm; lãi suất OMO giảm từ 4% xuống 3,5%; trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm từ 5% xuống 4,75%; lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên từ 6% xuống 5,5%; lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc là 1%...

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.092 23.272 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.083 23..293 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.250
50.640
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.250
50.620
Vàng SJC 5c
50.250
50.640
Vàng nhẫn 9999
49.950
50.500
Vàng nữ trang 9999
49.650
50.400