Tài khóa - Tiền tệ: Phối hợp hoàn thành mục tiêu kép

09:37 | 09/12/2022

Nhìn lại từ đầu năm đến nay, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện kinh tế tài chính đánh giá, sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong năm 2022 tương đối tốt, giúp vừa kiểm soát lạm phát, tỷ giá, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

tai khoa tien te phoi hop hoan thanh muc tieu kep Thủ tướng chỉ đạo các nhiệm vụ điều hành kinh tế vĩ mô, tăng cường niềm tin của người dân, doanh nghiệp

Hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế

Tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 11, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp tục nhấn mạnh điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) chắc chắn, chủ động, linh hoạt, hiệu quả; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa CSTT, chính sách tài khóa (CSTK) và các chính sách vĩ mô khác. Thực hiện CSTK mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân… là một trong những chủ trương chính sách xuyên suốt của Chính phủ từ đầu năm đến nay. Quan điểm này của người đứng đầu Chính phủ đã được các cơ quan điều hành bám sát triển khai với nhiều giải pháp thiết thực.

Nhìn lại từ đầu năm đến nay, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện kinh tế tài chính đánh giá, sự phối hợp giữa CSTK và CSTT trong năm 2022 tương đối tốt, giúp vừa kiểm soát lạm phát, tỷ giá, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trong điều hành CSTT, NHNN đã chỉ đạo hệ thống ngân hàng giảm lãi suất, khoanh nợ, giãn hoãn thời gian trả nợ, tái cấu trúc nợ vay… góp phần giúp doanh nghiệp hồi phục tốt hơn. Room tín dụng được điều chỉnh linh hoạt theo từng thời điểm, đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế. Mới đây nhất, NHNN đã nới room tín dụng thêm 1,5% - 2% cho toàn hệ thống các TCTD, tạo thêm dư địa tín dụng để ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế; Đồng thời tạo thuận lợi cho các TCTD triển khai các nhiệm vụ chính trị được giao và có thể thực hiện chương trình tín dụng ưu đãi như gói hỗ trợ lãi suất 2%, hay hạ chi phí lãi vay. Đáng chú ý, trên thị trường, ghi nhận đã có những tín hiệu hạ lãi suất tại một vài ngân hàng.

tai khoa tien te phoi hop hoan thanh muc tieu kep
Chính sách tài khóa được sử dụng nhiều hơn đã tạo thêm dư địa cho chính sách tiền tệ

Về CSTK, do gói hỗ trợ tài khóa chiếm phần lớn trong Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội nên vai trò chính sách này rất quan trọng. Khái quát về CSTK năm 2022, một chuyên gia kinh tế đánh giá, các gói hỗ trợ giảm thuế, nhất là VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu đã có tác dụng tốt đến mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức dưới 4% trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới đang đối mặt với lạm phát cao. Gói hỗ trợ tài khóa đã góp phần phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế.

Lựa chọn CSTK làm “trụ cột” chương trình phục hồi phát triển kinh tế theo đánh giá của TS. Võ Trí Thành - thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia là phù hợp vì dư địa tài khóa ngân sách của Việt Nam tương đối tốt; thâm hụt ngân sách, tỷ lệ nợ công của Việt Nam ở mức khả quan và ít gây áp lực cho lạm phát hơn. Việc sử dụng nhiều hơn CSTK cũng đã tạo dư địa cho CSTT linh hoạt vừa ứng phó với những rủi ro, bất định; vừa hỗ trợ phục hồi, phát triển kinh tế, vừa đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô.

Phối hợp để hóa giải áp lực

Sang năm 2023, dự báo kinh tế Việt Nam đối mặt nhiều khó khăn hơn so với năm 2022. Những yếu tố biến động khó lường từ bên ngoài, đặc biệt, cuộc xung đột Nga – Ukraine chưa có hồi kết. Đây chính là nguy cơ tạo ra biến động giá của nhiều loại hàng hóa trên thế giới, nhất là mặt hàng xăng dầu. Sức ép tăng giá các loại hàng hóa, nguyên liệu nhập khẩu đầu vào vẫn hiện hữu. Về đầu tư và kinh doanh do đơn hàng xuất khẩu nhiều ngành sụt giảm như sản phẩm dệt may, da giày, sắt thép, xi măng... Nhiều doanh nghiệp đã phải cắt giảm nhân công, giảm quy mô sản xuất từ các tháng cuối năm 2022. Trong bối cảnh đó, sự phối hợp giữa hai CSTK và CSTT càng phải chặt chẽ, nhịp nhàng hơn nữa để hỗ trợ doanh nghiệp duy trì đà phục hồi vừa ổn định kinh tế vĩ mô có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong bối cảnh lạm phát cơ bản trong nước tăng tốc.

Khác với năm 2022, áp lực lên kinh tế Việt Nam không chỉ từ bên ngoài mà sức ép từ nội tại không hề nhỏ, nhất là đến từ thị trường tài chính. Thị trường bất động sản, chứng khoán, nhất là thị trường trái phiếu doanh nghiệp nếu không được xử lý một cách thận trọng, hiệu quả, để xảy ra tình trạng vỡ bong bóng thì hệ luỵ sẽ rất lớn. Vì vậy, theo TS. Châu Đình Linh - chuyên gia ngân hàng, trong năm 2023 phải giải quyết ổn thỏa ba thị trường trên, nhất là đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp làm sao để khôi phục niềm tin nhà đầu tư.

Theo TS. Linh, nên có cơ chế khuyến khích, đa dạng hoá loại hình nhà đầu tư chuyên nghiệp là các tổ chức tài chính, doanh nghiệp... tham gia thị trường. Song song với đó phải tăng cường thanh tra giám sát, hạn chế rủi ro phát sinh cũng như thanh lọc những doanh nghiệp phát hành yếu kém. Vấn đề này không chỉ một mình Bộ Tài chính giải quyết được mà cần sự phối hợp của CSTT, ở đây vai trò của NHNN rất quan trọng. “Hai bộ, ngành nên ngồi lại thảo luận những vấn đề tồn tại trên thị trường trái phiếu để cùng đưa ra hướng giải pháp đồng bộ. Sự phối hợp này sẽ hiệu quả hơn nếu có sự đồng hành hỗ trợ của Chính phủ”, vị chuyên gia này gợi ý.

Với tiền đề, vị thế và khả năng phối hợp giữa CSTK và độ linh hoạt của CSTT, theo quan điểm TS. Võ Trí Thành, CSTK vẫn là “điểm tựa” hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua đẩy mạnh hơn nữa thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế. Để duy trì và tiếp tục phát huy vai trò của CSTK đối với nền kinh tế, TS. Võ Trí Thành khuyến nghị, tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế. Cùng với các chính sách khác, việc triển khai CSTK cần bám sát tình hình thực tiễn để có điều chỉnh cần thiết; không phải theo các kế hoạch hàng năm như truyền thống, mà có điều chỉnh ở nguồn lực và việc thực thi đối với các trụ cột trong Chương trình.

Đối với CSTT, TS. Võ Trí Thành cho rằng, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường như trong thời gian qua. Chẳng hạn, linh hoạt điều chỉnh nới room tín dụng thêm 1,5%-2% hỗ trợ doanh nghiệp duy trì, phục hồi và phát triển sản xuất – kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng. Bên cạnh đó, phải làm thế nào để điều tiết tín dụng hướng dòng vốn ngân hàng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, những ngành động lực cho tăng trưởng kinh tế, không chảy vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.430 23.800 24.662 26.042 27.702 28.883 175,33 185,62
BIDV 23.490 23.790 24.859 26.062 27.830 28.912 173.60 182.70
VietinBank 23.400 23.800 24.488 26.123 28.168 29.178 176,97 184,92
Agribank 23.440 23.800 24.910 26.057 27.948 28.857 177,53 185,26
Eximbank 23.410 23.750 24.970 25.647 28.029 28.789 177,36 182,17
ACB 23.400 23.800 25.009 25.606 28.028 28.765 177,51 181,93
Sacombank 23.470 23.870 25.080 25.687 28.247 28.862 177,80 183,35
Techcombank 23.430 23.790 24.760 26.090 27.766 29.067 173,38 185,81
LienVietPostBank 23.430 24.100 24.880 26.235 28.154 29.108 176,00 187,77
DongA Bank 23.480 23.790 24.980 25.620 28.050 28.760 176,5 182,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.400
Vàng SJC 5c
66.600
67.420
Vàng nhẫn 9999
54.000
54.950
Vàng nữ trang 9999
53.750
54.550