Tận dụng thị trường gần ASEAN

09:05 | 06/07/2020

Hàng hóa Việt Nam vào thị trường ASEAN phải cạnh tranh bằng chất lượng, giá cả và sự đa dạng chủng loại, mặc dù là thị trường gần, gu tiêu dùng tương đồng. Tuy nhiên, doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường vẫn phải theo sát xu hướng tiêu dùng của người dân mỗi nước, liên kết với các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ nội địa uy tín, có năng lực… để duy trì sự tồn tại của hàng Việt một cách bền vững.

Bà Lê Thị Mai Anh, Vụ Thị trường châu Á - châu Phi (Bộ Công thương) nhận định, khu vực các quốc gia ASEAN vốn đông dân, tầng lớp trung lưu ngày càng tăng, đời sống đang được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng. Người dân ASEAN tương đồng về lối sống, văn hóa mua sắm cũng như nhu cầu về các nhóm hàng hóa tiêu dùng thiết yếu. Trong 5 năm trở lại đây, rất nhiều quốc gia trong khối có thế mạnh xuất khẩu như Thái Lan, Việt Nam, Singapore, Malaysia, Indonesia… đều xem các thị trường nội khối chính là thị trường nội địa nối dài. Riêng Việt Nam đã xuất khẩu vào thị trường ASEAN rất nhiều chủng loại hàng nông sản (gạo, cà phê, hạt tiêu, rau quả, thủy sản…). Ngoài ra, ASEAN còn là thị trường tiềm năng để Việt Nam xuất khẩu các nhóm hàng như điện thoại các loại và linh kiện, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, hàng dệt may, gỗ và các sản phẩm từ gỗ…

Hàng hóa Việt vào thị trường ASEAN phải cạnh tranh bằng chất lượng, giá cả và sự đa dạng

Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, ASEAN là thị trường tiêu thụ rau quả lớn thứ 2 của Việt Nam, trong đó, Thái Lan là nước trong khối nhập khẩu nhiều rau quả Việt Nam nhất. Trong 5 tháng 2020 kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam sang thị trường Thái Lan đạt gần  60 triệu USD, tăng đến 144% so với cùng kỳ năm 2019. ASEAN cũng đang là thị trường xuất khẩu gạo lớn của Việt Nam, năm 2019 xuất khẩu gạo ASEAN đạt 1 tỷ USD, trong đó Philippines là nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam. Nhu cầu nhập khẩu gạo tại khu vực này dự báo sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới do ảnh hưởng của dịch bệnh khiến nguồn cung từ các nước khác sụt giảm.

Hiện nay trong khối ASEAN có Indonesia, Thái Lan, Philippines là ba thị trường nhập khẩu hàng Việt Nam lớn nhất, với nhiều mặt hàng đa dạng, từ thực phẩm chế biến (trái cây sấy khô, cà phê hòa tan), hàng dệt may, các loại  máy phát điện, máy bơm nước, điện da dụng, thiết bị viễn thông... Một số thị trường khác là Singapore, Indonesia, Campuchia… cũng tiêu thụ mạnh sản phẩm cà phê, chè, rau quả và cá tra Việt.

Lợi thế của doanh nghiệp Việt khi đưa hàng vào nội khối ASEAN là sự thuận lợi về khoảng cách địa lý, không hạn chế phương tiện vận chuyển. Trong khối còn nhiều nước đang phát triển nên yêu cầu kỹ thuật không quá cao và đa dạng phân khúc giá cả (như Campuchia, Lào, Myanmar). Điều này thuận lợi đối với phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng, thực phẩm chế biến và may mặc. Ở cấp cao hơn, với các thị trường Singapore, Thái Lan, Malaysia… hàng Việt cũng có nhiều đối thủ mạnh như Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản… tạo ra môi trường tốt để doanh nghiệp Việt thử thách.

Bài học kinh nghiệm từ các nước trong khối ASEAN là cần tiếp cận thị trường nội khối nhanh chóng, cụ thể và sâu sát. Như doanh nghiệp Thái Lan hơn 10 năm qua không chỉ đưa hàng vào tiêu thụ tại các đô thị lớn của Việt Nam, mà còn lan tỏa đến tận chợ truyền thống, thị trường nông thôn. Đến nay, doanh nghiệp Thái đã tận dụng rất tốt các cam kết giảm thuế nội khối, để đưa hàng nghìn mặt hàng tiêu dùng thiết yếu vào Việt Nam tiêu thụ. Hay như Singapore cũng đã không ngừng đưa dịch vụ thương mại nổi trội của mình là y tế, du lịch, du học… phục vụ người Việt.

Bà Lê Thị Mai Anh cho rằng, hàng hóa Việt Nam vào thị trường ASEAN phải cạnh tranh bằng chất lượng, giá cả và sự đa dạng chủng loại, mặc dù là thị trường gần, gu tiêu dùng tương đồng. Tuy nhiên, doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường vẫn phải theo sát xu hướng tiêu dùng của người dân mỗi nước, liên kết với các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ nội địa uy tín, có năng lực… để duy trì sự tồn tại của hàng Việt một cách bền vững. Bài học gần nhất là thị trường Campuchia, khi có những doanh nghiệp Việt lớn như Tường An, Vissan, Co.op Mart đã từng tiến vào thị trường này, nhưng không duy trì được quá 6 tháng.

Thanh Trà

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.076 23..286 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.068 23.268 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
57.050
Vàng SJC 5c
55.100
57.070
Vàng nhẫn 9999
52.200
54.100
Vàng nữ trang 9999
51.700
53.600