Tăng hỗ trợ cho vay trả lương ngừng việc

09:00 | 07/07/2021

Một trong những điểm mới của Nghị quyết 68 là không quy định về tỷ lệ sụt giảm doanh thu hoặc tỷ lệ cắt giảm lao động để được hưởng thụ chính sách này. Bên cạnh đó, mức vay cũng được nới rộng hơn, bằng 100% mức lương tối thiểu vùng/lao động thay vì mức 50% như quy định trước đây. Nghị quyết 68 cũng không yêu cầu doanh nghiệp phải trả trước tối thiểu 50% lương ngừng việc cho người lao động.

tang ho tro cho vay tra luong ngung viec Nguồn vốn tín dụng chính sách tích cực hỗ trợ người dân trong dịch bệnh
tang ho tro cho vay tra luong ngung viec Lãi suất càng thấp, trách nhiệm càng phải cao
tang ho tro cho vay tra luong ngung viec Bảo vệ an toàn tiền gửi và duy trì dòng vốn hỗ trợ phục hồi

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Trong đó, quy định người sử dụng lao động (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp) được vay vốn trả lương cho người lao động ngừng việc và phục hồi sản xuất kinh doanh tại Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) với lãi suất 0%, không cần tài sản đảm bảo.

tang ho tro cho vay tra luong ngung viec
Ảnh minh họa

Cụ thể với cho vay trả lương ngừng việc, doanh nghiệp được vay vốn tại NHCSXH với lãi suất 0% và không phải thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay để trả lương ngừng việc đối với người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc phải ngừng việc từ 15 ngày liên tục trở lên theo quy định khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động, trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/3/2022. Người sử dụng lao động không có nợ xấu tại tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại thời điểm đề nghị vay vốn. Mức cho vay tối đa bằng mức lương tối thiểu vùng đối với số người lao động theo thời gian trả lương ngừng việc thực tế tối đa 3 tháng. Thời hạn vay vốn dưới 12 tháng.

Còn với cho vay trả lương phục hồi sản xuất, doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/3/2022 khi quay trở lại sản xuất kinh doanh và người sử dụng lao động hoạt động trong lĩnh vực vận tải, hàng không, du lịch, dịch vụ lưu trú và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/3/2022 được vay vốn tại NHCSXH với lãi suất 0% và không phải thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay để trả lương cho người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Người sử dụng lao động không có nợ xấu tại tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại thời điểm đề nghị vay vốn. Mức cho vay tối đa bằng mức lương tối thiểu vùng đối với số người lao động đang làm việc theo hợp đồng lao động theo thời gian trả lương thực tế tối đa 3 tháng. Thời hạn vay vốn dưới 12 tháng.

Để thực hiện chính sách này, Chính phủ giao NHNN Việt Nam chủ trì phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bảo hiểm Xã hội và các cơ quan liên quan ban hành thông tư hướng dẫn theo trình tự thủ tục rút gọn và cho NHCSXH vay tái cấp vốn tối đa 7.500 tỷ đồng với lãi suất 0%/năm, thời hạn tái cấp vốn dưới 12 tháng và không có tài sản đảm bảo để cho người sử dụng lao động theo quy định tại Nghị quyết 68 vay trả lương cho người lao động. Thời hạn tái cấp vốn đến hết ngày 31/3/2022 hoặc khi giải ngân hết số tiền tái cấp vốn tùy theo điều kiện nào đến trước.

Một trong những điểm mới của Nghị quyết 68 là không quy định về tỷ lệ sụt giảm doanh thu hoặc tỷ lệ cắt giảm lao động để được hưởng thụ chính sách này. Bên cạnh đó, mức vay cũng được nới rộng hơn, bằng 100% mức lương tối thiểu vùng/lao động thay vì mức 50% như quy định trước đây. Nghị quyết 68 cũng không yêu cầu doanh nghiệp phải trả trước tối thiểu 50% lương ngừng việc cho người lao động.

Theo các chuyên gia, việc bỏ đi các quy định này đã giúp đơn giản hóa thủ tục cũng như mở ra cơ hội rộng hơn cho các doanh nghiệp tiếp cận chính sách hỗ trợ đầy tính nhân văn này. Trên thực tế chính sách cho doanh nghiệp vay vốn trả lương cho người lao động ngừng việc do ảnh hưởng Covid-19 đã được Chính phủ triển khai từ năm 2020. Tuy nhiên, nhiều thủ tục rườm rà, trong khi mức vay là không lớn nên doanh nghiệp không mấy mặn mà. Vì thế theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tính đến 31/3/2021, gói tín dụng có quy mô 16.000 tỷ đồng này chỉ giải ngân được 42 tỷ đồng cho 245 doanh nghiệp, đạt 0,26%.

TS. Nguyễn Đức Kiên - Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ cho biết, các gói chính sách hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng trong khủng hoảng Covid-19 năm qua giải ngân chưa được nhiều do chúng ta không có dữ liệu tốt về dân cư và lao động mất việc. Nên đến khi có tiền nhưng không biết tìm người mất việc ở đâu để chi cho họ, cán bộ triển khai công việc này sợ làm sai, không biết có đúng người đúng việc không mà đưa tiền.

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát gây nhiều khó khăn cho sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân, nhiều chính sách được ban hành trong tình trạng khẩn cấp, trong khi lại chưa có tiền lệ, nhóm hỗ trợ rộng, thuộc mọi thành phần kinh tế nên khó tránh được những hạn chế, chưa sát thực tiễn.

Từ bài học của việc giải ngân gói hỗ trợ 16.000 tỷ đồng, có thể thấy Nghị quyết 68 đã khắc phục tối đa những hạn chế để gói hỗ trợ đầy tính nhân văn này đến được với nhiều doanh nghiệp và người lao động, hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động vượt qua những khó khăn hiện tại.

(Thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/05/2020 của Chính phủ)

Hải Nam

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800