Tăng trưởng việc làm vẫn thấp tại Mỹ

07:00 | 13/10/2021

Nền kinh tế Mỹ đang tạo ra số việc làm với tốc độ chậm hơn nhiều so với dự kiến trong tháng 9, đưa ra dấu hiệu không mấy khả quan về tình trạng của nền kinh tế.

Theo báo cáo của Bộ Lao động, biên chế lao động phi nông nghiệp chỉ tăng 194 nghìn việc làm trong tháng, so với ước tính 500 nghìn việc làm của Dow Jones. Tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 4,8%, tốt hơn kỳ vọng 5,1% và thấp nhất kể từ tháng 2/2020. Mặc dù tổng số việc làm không cao nhưng mức tiền lương vẫn tăng mạnh. Mức tăng hàng tháng là 0,6% đã đẩy mức tăng hàng năm lên 4,6% khi các công ty sử dụng biện pháp tăng lương để ứng phó với tình trạng thiếu lao động dai dẳng. Lực lượng lao động hiện có đã giảm 183 nghìn người vào tháng 9 và chỉ còn 3,1 triệu người.

tang truong viec lam van thap tai my
Tỷ lệ tăng việc làm tại Mỹ vẫn chưa đạt mức dự kiến

Ông Andrew Hunter, nhà kinh tế cấp cao của Mỹ tại Capital Economics cho biết, tình trạng thiếu lao động đang tiếp tục làm tăng áp lực nghiêm trọng đối với tiền lương vào thời điểm mà sự trở lại của những người lao động trong lĩnh vực giải trí và khách sạn. Lĩnh vực khách sạn và giải trí luôn dẫn đầu tạo ra việc làm với 226 nghìn việc làm. Danh mục này bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong đại dịch và đã phải vật lộn để giành lại lực kéo vì đây là loại hình kinh tế nhạy cảm nhất với việc mở cửa kinh tế trở lại. Các cơ sở đang phải vật lộn với tình trạng thiếu lao động mặc dù có gần 2 triệu việc làm được mở.

Mặc dù ngành công nghiệp này bao gồm quán bar, nhà hàng, khách sạn và những ngành tương tự đã có thêm khoảng 800 nghìn công nhân được tuyển dụng (tỷ lệ khá cao so với một năm trước), nhưng tỷ lệ thất nghiệp của lĩnh vực này vẫn ở mức 9,1%, so với tỷ lệ toàn quốc là 5,2%, theo dữ liệu của Bộ Lao động.

Mức tăng việc làm được trải rộng trên nhiều lĩnh vực khác: Vận tải và kho bãi (47.000), thông tin (32.000), trợ cấp xã hội (30.000), sản xuất (26.000), xây dựng (22.000) và thương mại bán buôn (17.000).

Theo ông Gus Faucher, chuyên gia kinh tế trưởng tại PNC, việc làm trong lĩnh vực giáo dục cũng đã giảm đáng kể, đây có thể là do sự điều chỉnh theo mùa về số lượng.

Đối với công nhân da đen, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 7,9% trong tháng 9 từ mức 8,8% trong tháng 8. Đó là mức giảm lớn nhất khi so sánh với các nhóm chủng tộc khác trong báo cáo việc làm. Nó cũng đáng chú ý khi xem xét sự phục hồi thị trường lao động cho người Mỹ da đen đã làm tụt hậu các nhóm khác trong suốt đại dịch.

Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người Mỹ da đen cũng giảm xuống 61,3% trong tháng 9 từ mức 61,6% của tháng trước. Con số đó chỉ giảm nhẹ đối với công nhân da trắng, 1/10 phần trăm và tăng đối với công nhân gốc Tây Ban Nha và châu Á.

Trong khi tỷ lệ thất nghiệp 7,9% của người da đen trong tháng 9 đã cho thấy sự cải thiện đáng kể so với tháng trước, thì tỷ lệ thất nghiệp của người da trắng đã phục hồi về mức 7% vào tháng 8/2020. Tỷ lệ thất nghiệp của người lao động da trắng tháng trước là 4,2%, giảm so với mức 4,5% cùng kỳ.

Các con số báo cáo trên được đưa ra vào thời điểm quan trọng đối với nền kinh tế, với dữ liệu gần đây cho thấy chi tiêu tiêu dùng ổn định bất chấp giá cả tăng, lĩnh vực sản xuất, dịch vụ tăng trưởng và chi phí nhà ở tăng cao.

Các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang theo dõi chặt chẽ số lượng việc làm. Đại diện Fed gần đây đã cho biết, đã sẵn sàng bắt đầu rút lại một số trợ giúp đặc biệt mà ngân hàng đã cung cấp trong cuộc khủng hoảng đại dịch, chủ yếu là do lạm phát đã đạt và vượt quá mục tiêu 2% của Fed. Tuy nhiên, thị trường việc làm vẫn còn chưa được lấp đầy - một điều kiện tiên quyết để tăng lãi suất. Hiện thị trường cho thấy lần tăng tỷ giá đầu tiên có thể sẽ đến vào tháng 11/2022.

Theo đại diện Bộ Lao động, trong số những người Mỹ không tham gia lực lượng lao động vào tháng 9, có tới 1,6 triệu người đã viện dẫn rằng đại dịch là lý do tại sao họ không thể tìm việc làm. Giáo sư kinh tế Ian Schmutte của Đại học Georgia cho biết, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động giảm cũng là một chỉ số khác quan trọng về thiệt hại từ biến thể Delta này.

Báo cáo việc làm tháng 9 cũng cho thấy sự phục hồi của thị trường lao động ở phụ nữ bị tụt hậu so với nam giới, đây là một xu hướng xuyên suốt đại dịch. Tổng mức việc làm của nam giới trên tất cả các chủng tộc đã phục hồi nhiều hơn so với tỷ lệ phục hồi việc làm của Hoa Kỳ nói chung, trong khi phụ nữ vẫn ở thấp hơn, đặc biệt là phụ nữ da đen và Tây Ban Nha.

Thái Hồng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.780 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.810 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.795 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.800 23.050 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.820 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.830 23.060 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.790 23.055 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.860 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.250
60.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.250
60.950
Vàng SJC 5c
60.250
60.970
Vàng nhẫn 9999
51.650
52.350
Vàng nữ trang 9999
51.350
52.050