Tạo đà cho tăng trưởng vượt bậc

14:13 | 12/09/2022

Với diễn biến sau 2/3 chặng đường của năm 2022, theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, nền kinh tế Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng 6,8-7,2%, thậm chí có thể đạt tới 8,5%. Tuy nhiên cần cải thiện các động lực để tạo lực đẩy cho tăng trưởng, như thúc đẩy thực hiện chương trình phục hồi kinh tế, hoàn thiện thể chế để cải thiện môi trường kinh doanh, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế…

tao da cho tang truong vuot bac Hỗ trợ tăng trưởng, không chủ quan lạm phát
tao da cho tang truong vuot bac Cần đẩy nhanh tiến độ Chương trình phục hồi
tao da cho tang truong vuot bac Đầu tư ra nước ngoài vẫn tăng trưởng tốt

Triển vọng tăng trưởng cao nhất trong khu vực

Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s mới đây dự báo, tăng trưởng kinh tế Việt Nam có thể đạt 8,5% trong năm 2022, cao nhất ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và cao hơn đáng kể so với dự báo của các tổ chức khác. Trước đó, các cơ quan như WB, IMF, UNCTAD, ADB… đều dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm nay trong khoảng 6,7-7,5%.

Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV mới đây cũng đã dự báo kịch bản cơ sở của tăng trưởng năm 2022 quanh mức 6,8-7,2% và kịch bản tích cực là 7,2-7,6%. Cơ quan này cho rằng kịch bản cơ sở đạt được nhờ tốc độ tăng trưởng cao trong nửa cuối năm, khi GDP quý III có thể tăng tới 9,5-10,5% so với cùng kỳ năm trước. Còn trong quý IV, tốc độ tăng trưởng dự báo đạt mức 6,2-6,5% so với cùng kỳ.

tao da cho tang truong vuot bac
Hiện nay, lĩnh vực phục hồi tích cực nhất chính là tiêu dùng nội địa

Từ phía cung, các khu vực kinh tế đều hồi phục và đạt tốc độ tăng trưởng như trước đại dịch Covid-19. Cụ thể cả năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 2,8-3,3%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng mạnh 8-8,3% nhờ sự phục hồi của các ngành chế biến – chế tạo và các dự án xây dựng; khu vực dịch vụ tăng khoảng 8-8,1%. Từ phía cầu, các hoạt động kinh tế - xã hội đều phục hồi tốt, như tiêu dùng phục hồi mạnh và tăng 17-20% so với cùng kỳ năm trước; xuất - nhập khẩu lần lượt tăng 13-15% và 11-13%; vốn FDI giải ngân tăng 7-9%; tăng trưởng tín dụng đạt 14-15%; và giải ngân đầu tư công (bao gồm cả Chương trình phục hồi kinh tế) tăng 7-8%.

Mặc dù đánh giá tích cực về sức bật của nền kinh tế sau 2/3 quãng đường năm 2022, song các chuyên gia cho rằng để đạt được kịch bản cơ sở cũng là điều khá thách thức, do nhiều khó khăn còn đang ở phía trước.

Hiện nay, lĩnh vực phục hồi tích cực nhất chính là tiêu dùng nội địa. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, sau 8 tháng năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 3.679,2 nghìn tỷ đồng, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 15,1%. Còn so với cùng kỳ năm 2019 - là năm trước khi xảy ra dịch Covid-19 - thì tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cũng tăng tới 13,9%. Như vậy, sức mua trên thị trường nội địa không chỉ phục hồi mà đã quay lại xu hướng tăng trưởng so với những năm trước khi bùng dịch. Nếu duy trì đà phục hồi tốt như hiện nay, tiêu dùng nội địa hoàn toàn có thể tăng trưởng ở mức 17-20% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên hiện lạm phát bùng phát tại nhiều quốc gia trên thế giới đã ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động đầu tư và tiêu dùng, khiến xuất khẩu trong 4 tháng còn lại trở nên khó lường. Bộ Công thương mới đây cũng nhận định xuất khẩu sẽ chậm lại trong quý IV, với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu âm 3,5% và dự kiến cả năm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chỉ đạt 9,5%, thấp hơn so với mức tăng 12-14% mà nhiều cơ quan trong nước đã dự báo trước đó.

Khó khăn còn ở phía trước

TS. Nguyễn Đức Kiên - Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng nhận định, mặc dù còn 1 tháng nữa mới hết quý III/2022, song có thể dự báo rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế của quý III sẽ cao hơn khá nhiều so với quý II. Nhưng sang quý IV, tốc độ tăng trưởng có thể chậm lại. Bên cạnh đó, ông Kiên cho rằng diễn biến kinh tế thế giới tiếp tục khó lường và khó dự báo, sẽ ảnh hưởng tới việc hoạch định các chính sách vĩ mô của Việt Nam, đặc biệt là áp lực lạm phát. “Có thể nói kinh tế trong nước đang phục hồi mạnh mẽ so với những năm bùng phát dịch Covid-19, chứ chưa thể quay trở lại như những năm trước khi xảy ra đại dịch”, ông Kiên cho biết thêm.

TS. Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế cũng lo ngại rằng lạm phát sẽ tăng mạnh trong 4 tháng cuối năm 2022 và thậm chí còn áp lực lớn hơn trong năm 2023. Ông Long lý giải là do giá xăng dầu thế giới vẫn có khả năng biến động tăng trở lại hoặc khó giảm sâu, trong khi mặt bằng giá cả trong nước vẫn cao. Đồng thời giá các dịch vụ công như giáo dục đã bị ghìm giữ khá lâu và sẽ tiếp tục được điều chỉnh tăng theo lộ trình; nhu cầu mua sắm cuối năm của người dân tăng cao cũng sẽ khiến lạm phát đối diện nguy cơ tăng nếu khan hiếm hàng hóa… Một vấn đề khác là việc giải ngân các gói hỗ trợ nền kinh tế thường có xu hướng chậm chạp trong năm đầu tiên thực hiện, nhưng lại được đẩy nhanh vào năm cuối cùng (2023), khiến áp lực lạm phát cũng sẽ dồn nhiều hơn vào năm sau.

Như vậy, các khó khăn của nền kinh tế sẽ dồn vào những tháng cuối năm và cả năm 2023, vì vậy đây cũng là thời điểm cần cải thiện các động lực để tạo nền tảng vững chắc cho nền kinh tế trong năm 2023.

Theo các chuyên gia, trước hết thể chế cần được quan tâm hoàn thiện, nhất là các đạo luật quan trọng như Luật Giao dịch điện tử giúp khơi thông các ngành liên quan tới kinh tế số; hay Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản giúp tháo gỡ nút thắt cho thị trường bất động sản; Nghị định sửa đổi Nghị định 153 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp… Cùng với việc cải thiện môi trường kinh doanh, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý sẽ tạo điều kiện tháo gỡ rào cản, lành mạnh hóa thị trường vốn, bất động sản, tạo động lực phát triển bền vững.

Động lực quan trọng khác là thúc đẩy thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội 2022-2023. Theo Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, khi các gói hỗ trợ được giải ngân hiệu quả theo đúng tiến độ đặt ra, tức là tỷ lệ giải ngân đạt khoảng 80-90% cho cả 2 năm, thì tăng trưởng GDP có thể đạt 7-7,5% năm 2022, tạo đà để tăng trưởng nhanh và bền vững hơn trong năm 2023. Ngược lại, nếu tỷ lệ giải ngân chỉ đạt khoảng 60-70% cho cả 2 năm thì tăng trưởng sẽ thấp hơn khoảng 0,8-1 điểm % so với kịch bản cơ sở mà cơ quan này dự báo.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển dịch mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, năng suất lao động tăng lên bởi ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ sản xuất, chế biến đơn giản sang ứng dụng công nghệ cao.

Ngọc Khanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.575 23.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.553 23.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.555 23.845 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.592 23.967 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.350
51.250
Vàng nữ trang 9999
50.250
50.850