Chỉ số kinh tế:
Ngày 18/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.637 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.401/26.863 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ vật liệu xây dựng

PL
PL  - 
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà vừa ký ban hành Chỉ thị 28/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ ximăng, sắt thép và vật liệu xây dựng (VLXD).
aa
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Chỉ thị nêu rõ, VLXD bao gồm xi măng, thép xây dựng, gạch ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng, vật liệu xây và các loại VLXD khác có vai trò rất quan trọng, phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, đô thị, nhà ở trong thiết kế và phát triển đất nước. Các hoạt động sản xuất, tiêu thụ VLXD tác động đến việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngành VLXD nước ta gặp rất nhiều khó khăn, sản lượng sản xuất, tiêu thụ và doanh thu đều giảm sút, dẫn đến nguy cơ tác động đến nền kinh tế và ảnh hưởng đến tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Qua đánh giá của các Bộ, ngành, hiệp hội và các doanh nghiệp trong ngành cho thấy khó khăn chủ yếu bao gồm:

Một là, cơ chế chính sách để phát triển bền vững ngành VLXD còn có khoảng cách so với thực tiễn; phản ứng chính sách còn chưa kịp thời với các vấn đề phát sinh, cam kết quốc tế trong các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên và các diễn biến nhanh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ các sản phẩm VLXD. Cơ chế chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất VLXD ứng dụng khoa học công nghệ chưa được ban hành cụ thể.

Hai là, chi phí nhiên liệu than, dầu FO, khí nén thiên nhiên (CNG), khí gas hóa lỏng (LPG) và điện tăng cao. Các nguyên liệu sản xuất VLXD như đá vôi, đá sét, phụ gia làm xi măng; cát trắng silic, đá vôi, đolomit làm kính; cao lanh, felspat (tràng thạch) làm gạch ốp lát, sứ vệ sinh; cát để sản xuất vật liệu xây không nung (VLXKN), nguyên liệu đầu vào làm thép,… vẫn còn gặp khó khăn, có lúc chưa bảo đảm đủ ổn định để sản xuất.

Ba là, thị trường tiêu thụ VLXD trong nước và xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do tổng cầu trong nước và thế giới đều giảm, chuỗi cung ứng bị đứt gẫy, thị trường bất động sản trong nước tăng trưởng chậm, nhiều công trình xây dựng, dự án trọng điểm về kết cấu hạ tầng chậm triển khai, phải hoãn hoặc giãn tiến độ; chi phí vận tải tăng cao; xuất khẩu clanhke, các sản phẩm VLXD sụt giảm do cạnh tranh gay gắt về giá bán sản phẩm từ các nhà sản xuất lớn trên thế giới, cộng với các quy định về hàng rào kỹ thuật tại các thị trường xuất khẩu; thị trường nội địa cạnh tranh gay gắt do sản phẩm nhập ngoại tăng lên đáng kể trong thời gian qua.

Bốn là, tình hình tài chính gặp khó khăn do các doanh nghiệp sản xuất VLXD, nhất là các doanh nghiệp xi măng có tỷ lệ vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng lớn. Giai đoạn đầu khi mới vận hành nhà máy, các doanh nghiệp phải trả nợ vốn vay, cộng với lãi vay cao, dẫn đến áp lực trả nợ cả gốc và lãi lớn. Do tiêu thụ sản phẩm rất chậm trong thời gian gần đây, nhiều doanh nghiệp đã phải dừng một số dây chuyền sản xuất, dẫn đến dòng tiền để trả nợ cho ngân hàng và chi phí nguyên, nhiên liệu phục vụ sản xuất rất khó khăn. Nhiều nhà máy VLXD, đặc biệt là nhóm xi măng, thép xây dựng sản xuất không hiệu quả, thua lỗ, dẫn đến nợ xấu.

Năm là, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái liên quan đến VLXD vẫn chưa được giải quyết triệt để.

6 quan điểm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ

Để khắc phục các khó khăn, vướng mắc nêu trên và thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ xi măng, sắt thép và VLXD trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan quán triệt 6 quan điểm chỉ đạo:

1. Bám sát thực tiễn, kịp thời phản ứng nhanh chính sách với những vấn đề khó khăn, vướng mắc nổi lên, tổ chức thực hiện quyết liệt, mạnh mẽ trong lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động sản xuất, tiêu thụ xi măng, thép xây dựng và các loại VLXD khác.

2. Phát triển ngành VLXD bảo đảm hiệu quả, bền vững, đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước, tăng cường xuất khẩu các sản phẩm VLXD có giá trị kinh tế cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội.

3. Tiếp cận và ứng dụng nhanh nhất các thành tựu khoa học, công nghệ, quản lý nhất là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong sản xuất; nâng cao chất lượng sản phẩm; đa dạng hóa các chủng loại sản phẩm chất lượng cao, có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu xây dựng.

4. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu trong sản xuất; khai thác sử dụng tiết kiệm tài nguyên khoáng sản; sử dụng tối đa các chất thải, phế thải của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng và chất thải sinh hoạt làm nguyên liệu, nhiên liệu, phụ gia cho quá trình sản xuất theo hướng kinh tế tuần hoàn; hạn chế tối đa ảnh hưởng tới môi trường trong quá trình khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản và sản xuất VLXD theo hướng sản xuất xanh.

5. Phát huy, khuyến khích các nhà đầu tư, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, phát triển VLXD;

6. Phân bổ mạng lưới cơ sở sản xuất VLXD trên toàn quốc phù hợp với điều kiện về tự nhiên, xã hội của từng vùng, miền.

4 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan tập trung thực hiện 4 nhiệm vụ và giải pháp sau:

1. Về cơ chế chính sách phát triển ngành:

- Rà soát các cơ chế, chính sách, thể chế để khuyến khích đầu tư phát triển ngành VLXD nhanh và bền vững, phục vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, điều chỉnh giảm mặt bằng lãi suất cho vay cho các khách hàng, trong đó có doanh nghiệp trong ngành VLXD theo quy định pháp luật. Ban hành các chính sách ưu đãi về sử dụng rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, phế thải một số ngành công nghiệp như tro xỉ, thạch cao,… làm nhiên liệu, nguyên liệu thay thế trong sản xuất xi măng và các VLXD khác. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực VLXD nhất là trong hoạt động sản xuất, tiêu thụ xi măng, thép xây dựng.

- Nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế về xuất khẩu sản phẩm clanhke xi măng để bảo đảm tính cạnh tranh với các nước cùng xuất khẩu mặt hàng này, đồng thời phù hợp với Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) về việc không đánh thuế xuất khẩu hàng hoá với các nước ký Hiệp định. Tăng cường các biện pháp về phòng vệ thương mại, hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá đối với các sản phẩm sắt thép, các sản phẩm VLXD như gạch ốp lát nhập khẩu, ván sợi gỗ (LDF/MDF/HDF), sứ vệ sinh, kính xây dựng… nhằm loại bỏ các hành vi cạnh tranh không công bằng và bảo đảm phù hợp với những quy định của Việt Nam và WTO.

2. Về áp dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi sản xuất của ngành, nhất là sản xuất xanh:

Chủ động đổi mới, áp dụng linh hoạt công nghệ cao, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn để giảm giá thành, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm.

3. Về thị trường:

- Tăng cường dự báo diễn biến trong và ngoài nước để chủ động có các giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả, giúp cho doanh nghiệp có các định hướng ổn định sản xuất, kinh doanh; chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống hàng giả, hàng nhái; mở rộng thị trường cả trong và ngoài nước.

- Đẩy mạnh đầu tư công, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, nông thôn, các công trình quốc phòng, an ninh, công trình biển và hải đảo phục vụ dân sinh và phát triển kinh tế biển.

- Tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, nhà ở; đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh bền vững.

- Đẩy mạnh triển khai Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp và các chương trình, dự án xây dựng nhà ở khác để tiêu thụ VLXD.

- Nghiên cứu tăng tỷ lệ lựa chọn phương án sử dụng cầu cạn bê tông cốt thép đối với các dự án đường bộ cao tốc, đặc biệt là ở những vùng có yêu cầu thoát lũ, vùng đất yếu có chiều sâu lớn và những vùng thiếu vật liệu đắp nền đường như vùng đồng bằng sông Cửu Long; nghiên cứu sử dụng tối đa gia cố đất bằng xi măng trong xây dựng đường bộ tại khu vực đầu cầu, cống, các vị trí có chiều cao đắp lớn, các vị trí có chiều sâu đất yếu lớn,….

- Đẩy mạnh xây dựng các công trình chống biến đổi khí hậu như đê chắn sóng, các công trình chống sạt lở, gây lún đất các khu vực bị tác động.

- Ưu tiên đầu tư đường bê tông xi măng trong phát triển đường giao thông nông thôn miền núi, khu vực địa hình khó khăn, độ dốc lớn và tại những vùng, khu vực thường xuyên bị ngập nước.

4. Về hợp tác quốc tế:

Đẩy mạnh hợp tác đầu tư, chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ, quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực VLXD.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Xây dựng rà soát, đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng thời kỳ 2021 - 2030, định hướng đến năm 2050 tại Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2020; Chương trình phát triển VLXKN tại Việt Nam đến năm 2030 tại Quyết định số 2171/QĐ-TTg ngày 23 tháng 12 năm 2021 và các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, đề án liên quan đến VLXD để điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội.

Triển khai hiệu quả Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 1626/QĐ-TTg ngày 15 tháng 12 năm 2023 và Kế hoạch thực hiện Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 24 tháng 7 năm 2024.

Đôn đốc các doanh nghiệp VLXD, đặc biệt là xi măng tiết giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm năng lượng, đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, tăng cường đầu tư các hệ thống phát điện nhiệt dư và sử dụng các loại nhiên liệu thay thế từ rác thải, sử dụng các nguyên liệu thay thế là phế thải của các ngành công nghiệp như tro xỉ, thạch cao.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn và triển khai các biện pháp về hàng rào kỹ thuật đối với các sản phẩm VLXD nhập khẩu, đặc biệt là gạch ốp lát, sứ vệ sinh và kính xây dựng, bảo đảm phù hợp với những quy định về Tự do thương mại của WTO; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, đẩy mạnh triển khai Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp và các chương trình, dự án xây dựng nhà ở khác.

Bộ Công Thương khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển ngành thép Việt nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, lĩnh vực thép xây dựng cần được bảo đảm cân đối cung cầu và đầu tư phát triển bền vững.

Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển lĩnh vực thép xây dựng như: các chính sách về thuế các loại (thuế nhập khẩu, thu nhập doanh nghiệp,…), thu hút đầu tư, xây dựng tiêu chuẩn quốc gia; phân cấp, phân quyền trong công tác quản lý lĩnh vực thép xây dựng.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các bộ ngành liên quan trong việc xem xét hồ sơ đề nghị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, tiến hành điều tra theo quy định và kịp thời ban hành các biện pháp cụ thể về phòng vệ thương mại đối với các sản phẩm sắt thép và các sản phẩm VLXD như gạch ốp lát nhập khẩu, ván sợi gỗ (LDF/MDF/HDF), sứ vệ sinh, kính xây dựng… bảo đảm phù hợp với những quy định của pháp luật Việt Nam và WTO.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các hội, hiệp hội nghề đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường nước ngoài để hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu clanhke và xi măng; thép xây dựng, tôn mạ và các sản phẩm thép.

Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng

Bộ Tài chính chủ trì xây dựng Nghị định sửa đổi Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31 tháng 5 năm 2023 về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan; nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh theo hướng áp dụng thuế suất thuế xuất khẩu mặt hàng clanhke xi măng ở mức phù hợp để tháo gỡ khó khăn về tiêu thụ sản phẩm hiện nay.

Chủ trì xây dựng Nghị định hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi) sau khi được Quốc hội thông qua; nghiên cứu quy định về sản phẩm clanhke xi măng theo hướng "sản phẩm clanhke xi măng thuộc đối tượng chịu thuế GTGT" kể cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất các sản phẩm VLXD trong nước có chất lượng thay thế VLXD nhập khẩu, thân thiện môi trường, các sản phẩm VLXD chế biến sâu để xuất khẩu theo cơ chế, chính sách hiện hành; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư các trạm nghiền, trạm phân phối xi măng ở những địa phương không sản xuất được clanhke và có nguồn phụ gia, tận dụng được tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện.

Giải quyết kịp thời các thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, thuê đất đối với các dự án đầu tư khai thác khoáng sản làm VLXD và sản xuất VLXD. Đồng thời, khi xem xét, quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư các dự án sản xuất VLXD cần cân nhắc kỹ để tránh việc đầu tư dư thừa, dẫn đến cung vượt cầu, gây lãng phí nguồn lực xã hội.

Đồng thời, các địa phương đẩy mạnh các dự án đầu tư công, nhà ở xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, nông thôn, phòng chống thiên tai trên địa bàn để tăng lượng sử dụng xi măng, sắt thép và các VLXD khác.

Cắt giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp VLXD phải đổi mới, áp dụng công nghệ sản xuất và phương thức quản lý hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành sản phẩm; rà soát, cắt giảm chi phí sản xuất đối với nguyên liệu, nhiên liệu than, dầu, khí đốt và điện; áp dụng các giải pháp nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng trong sản xuất, tận dụng các nguồn nhiên liệu giá rẻ từ phế thải để giảm chi phí sản xuất.

Đa dạng hoá sản phẩm VLXD, phù hợp các loại hình công trình xây dựng, điều kiện khí hậu, vùng miền khác nhau; tăng cường sản xuất các sản phẩm VLXD thay thế nhập khẩu đáp ứng nhu cầu thị trường; tìm kiếm, mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm VLXD với nhiều nước trên thế giới...

PL

Tin liên quan

Tin khác

Thương mại điện tử cần nguồn nhân lực mới?

Thương mại điện tử cần nguồn nhân lực mới?

Trong thời điểm thương mại điện tử và kinh tế số ngày càng được xác định là những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế, bài toán nguồn nhân lực đang trở thành một trong những điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ. Không chỉ thiếu về số lượng, thị trường còn thiếu đội ngũ có khả năng làm chủ công nghệ, dữ liệu, logistics số, marketing số và các mô hình kinh doanh mới.
Chuyển đổi xanh: Phải biến sức ép thành lợi thế

Chuyển đổi xanh: Phải biến sức ép thành lợi thế

Chuyển đổi xanh đang trở thành điều kiện cạnh tranh khi tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe. Doanh nghiệp muốn giữ chỗ trong chuỗi cung ứng phải hành động sớm.
Không để doanh nghiệp Việt đứng ngoài những chuỗi giá trị đang lớn lên

Không để doanh nghiệp Việt đứng ngoài những chuỗi giá trị đang lớn lên

Quy mô xuất khẩu của Việt Nam liên tục bứt phá, ngày càng khẳng định vị trí của nền kinh tế trong mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu. Nhưng phía sau những con số tăng trưởng là một nghịch lý đáng lưu ý là các doanh nghiệp Việt (đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa) vẫn đang đứng khá xa ở những công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao.
Forbes tiếp tục vinh danh Vietjet trong Top 50 công ty niêm yết tốt nhất Việt Nam 2026

Forbes tiếp tục vinh danh Vietjet trong Top 50 công ty niêm yết tốt nhất Việt Nam 2026

Tạp chí Forbes Việt Nam vừa chính thức vinh danh Vietjet trong Top 50 Công ty niêm yết tốt nhất Việt Nam năm 2026, ghi nhận những doanh nghiệp nổi bật về hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, năng lực quản trị và triển vọng phát triển dài hạn.
Làn sóng CEO tuổi 20: Đảo ngược quy luật khởi nghiệp tỷ đô

Làn sóng CEO tuổi 20: Đảo ngược quy luật khởi nghiệp tỷ đô

Làn sóng trí tuệ nhân tạo (AI) lan rộng đang định hình lại chân dung giới lãnh đạo công nghệ. Không cần hàng chục năm kinh nghiệm, thế hệ sáng lập trẻ ngoài 20 tuổi nay đã tự tin điều hành những startup được định giá hàng chục tỷ USD.
Bao bì thành ‘tấm vé’ vào chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp in Việt phải chuyển mình

Bao bì thành ‘tấm vé’ vào chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp in Việt phải chuyển mình

Khi hàng Việt ngày càng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, bao bì không còn đơn thuần làm nhiệm vụ “đóng gói sản phẩm” mà trở thành một phần của tiêu chuẩn cạnh tranh. Từ vật liệu, công nghệ in, khả năng tái chế đến truy xuất nguồn gốc, những yêu cầu ngày càng cao buộc doanh nghiệp ngành in Việt Nam phải nâng cấp công nghệ, quản trị và “xanh hóa” sản xuất nếu muốn giữ đơn hàng.
Chủ động phòng vệ để hàng Việt giữ thị trường

Chủ động phòng vệ để hàng Việt giữ thị trường

Số vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam tiếp tục gia tăng, trong khi phạm vi rủi ro đã mở rộng từ chống bán phá giá sang chống lẩn tránh, gian lận xuất xứ và các công cụ thương mại mới. Để bảo vệ sản xuất, duy trì thị trường và nâng cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần đưa dữ liệu, cảnh báo sớm và quản trị chuỗi cung ứng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thay vì chờ vụ việc phát sinh mới tìm cách ứng phó.
Doanh nghiệp nhỏ xuất khẩu: Nhà xưởng, vốn và tiếng Anh có thực sự là “vé vào cửa”?

Doanh nghiệp nhỏ xuất khẩu: Nhà xưởng, vốn và tiếng Anh có thực sự là “vé vào cửa”?

Không nhà xưởng, vốn lớn hay tiếng Anh thành thạo, doanh nghiệp nhỏ vẫn có thể tìm khách hàng quốc tế nếu biết tận dụng công nghệ và thương mại.
Xuất khẩu gạo giảm cả lượng và giá, cần đổi cách cạnh tranh?

Xuất khẩu gạo giảm cả lượng và giá, cần đổi cách cạnh tranh?

Xuất khẩu gạo 8 tháng năm 2026 đạt hơn 6 triệu tấn, trị giá gần 2,91 tỷ USD, giảm cả về lượng lẫn giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Khi dư địa tăng sản lượng không còn nhiều và cạnh tranh trên thị trường thế giới ngày càng gay gắt, ngành gạo Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ “bán được nhiều” sang nâng giá trị mỗi tấn gạo bằng chất lượng, thương hiệu và đa dạng hóa thị trường.
Ông Nguyễn Xuân Vũ được bầu làm Phó Chủ tịch HĐQT SACOMBANK

Ông Nguyễn Xuân Vũ được bầu làm Phó Chủ tịch HĐQT SACOMBANK

Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc (SACOMBANK) vừa thống nhất bầu ông Nguyễn Xuân Vũ – Thành viên HĐQT giữ chức Phó Chủ tịch HĐQT SACOMBANK nhiệm kỳ 2022 – 2026, kể từ ngày 18/09/2026.