Chỉ số kinh tế:
Ngày 16/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.637 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.406/26.868 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Thể chế thoáng, nguồn lực thông

Đỗ Lê
Đỗ Lê  - 
Trong bối cảnh dư địa tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và mở rộng tín dụng ngày càng giới hạn, thể chế đang trở thành một nguồn lực phát triển quan trọng. Từ cắt giảm rào cản kinh doanh đến nâng chất lượng thực thi, cải cách thể chế có thể trực tiếp khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đầu tư và nâng năng suất.
aa
Gỡ nút thắt thể chế, dữ liệu để kinh tế số tăng tốc Từ cải cách thể chế đến khả năng hấp thụ vốn và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp Nâng tầm công tác phối hợp, đề cao trách nhiệm chính trị trong hoàn thiện thể chế kiến tạo phát triển

Thể chế trở thành một “đầu vào” của tăng trưởng

Trong mô hình tăng trưởng mới, thể chế ngày càng gắn trực tiếp với năng lực tạo ra tăng trưởng. Khi quy mô vốn, lao động và tín dụng không thể tiếp tục tăng với tốc độ cao mãi, chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực trở thành yếu tố quyết định hiệu quả của nền kinh tế. TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho rằng, để chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), Việt Nam cần đồng thời cải thiện khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo, hiệu quả thị trường, hạ tầng và thể chế. Trong đó, thể chế, bao gồm cả khâu thực thi, có vai trò ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền tài sản và giúp khơi thông, phân bổ nguồn lực hiệu quả.

Điều đó cho thấy vì sao cải cách thể chế có thể tạo ra các tác động kinh tế rất cụ thể. Thủ tục ít hơn giúp giảm thời gian và chi phí kinh doanh; chính sách minh bạch, có khả năng dự đoán cao hơn giúp doanh nghiệp mạnh dạn đưa ra quyết định đầu tư dài hạn; cơ chế phân cấp rõ ràng hơn có thể rút ngắn thời gian xử lý dự án; môi trường cạnh tranh bình đẳng và quyền tài sản được bảo đảm tốt hơn sẽ khuyến khích đổi mới sáng tạo và mở rộng khu vực tư nhân. Đây đều là những yếu tố cần thiết để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.

“Việt Nam có tiềm năng lớn, nhưng để tiến gần hơn tới mức tăng trưởng rất cao trong nhiều năm, nền kinh tế cần chuyển mạnh hơn từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động, tín dụng và FDI sang tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo, công nghệ, khu vực tư nhân trong nước và giá trị gia tăng cao hơn”, ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, nhận định. Theo ông Giáp, để đạt mức tăng trưởng cao trong nhiều năm, vấn đề không đơn thuần là tăng quy mô đầu tư, tăng tín dụng mà còn ở điều kiện thực thi, năng suất và chất lượng tăng trưởng. Do đó, cách tiếp cận bền vững hơn là nâng năng lực cung của nền kinh tế thông qua cải cách thể chế, tháo gỡ thủ tục đầu tư, cải thiện hạ tầng logistics và năng lượng, nâng kỹ năng lao động, phát triển thị trường vốn, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời tăng cường mối liên kết giữa FDI với doanh nghiệp trong nước.

Thể chế thoáng, nguồn lực thông
Trong mô hình tăng trưởng mới, thể chế ngày càng gắn trực tiếp với năng lực tạo ra
tăng trưởng

Giải phóng nguồn lực để chuyển hóa thành năng lực sản xuất

Những chuyển động gần đây cho thấy cải cách thể chế đang được thực hiện quyết liệt với quy mô lớn hơn. Chỉ tính riêng năm 2026, đến thời điểm này Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua 78 luật, nghị quyết, cơ bản khắc phục tình trạng nợ văn bản quy định chi tiết; đồng thời cải cách thủ tục hành chính đã cắt giảm 53% thời gian và 55% chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Cùng với đó, tập trung nhận diện, xử lý các kiến nghị và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Nhưng giá trị mang lại của cải cách không đơn thuần nằm ở số lượng văn bản hay số thủ tục được cắt bỏ. Ý nghĩa lớn hơn nằm ở việc chuyển dần tư duy quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm rào cản gia nhập thị trường, loại bỏ những chi phí không tạo thêm giá trị cho nền kinh tế… từ đó giúp giảm chi phí thực tế của doanh nghiệp, rút ngắn thời gian gia nhập thị trường, triển khai dự án và tiếp cận các nguồn lực, đồng thời làm cho môi trường và cơ hội kinh doanh trở nên dễ dự đoán hơn.

Từ góc độ thu hút đầu tư, yếu tố quan trọng không chỉ nằm ở các ưu đãi, mà còn ở chất lượng môi trường thể chế. “Một môi trường đầu tư thuận lợi là yếu tố then chốt cho tăng trưởng bền vững. Các nhà đầu tư cần sự minh bạch, khả năng dự đoán, tính hiệu quả và niềm tin vào các thể chế”, ông Kobayashi Yosuke, Trưởng đại diện JICA Việt Nam, nhấn mạnh và cho biết, JICA vì vậy coi cải thiện môi trường đầu tư là một trong bốn trụ cột hỗ trợ Việt Nam chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, cùng với khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp trong nước và hạ tầng chiến lược.

Hiệu quả của cải cách không chỉ dừng ở việc giảm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp. Thủ tục minh bạch và điều kiện gia nhập thị trường thuận lợi hơn giúp cạnh tranh gia tăng, nguồn lực có cơ hội dịch chuyển sang những doanh nghiệp sử dụng hiệu quả hơn và tăng khả năng thu hút các khoản đầu tư dài hạn. Điều này đặc biệt quan trọng khi mục tiêu tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu huy động ngày càng nhiều nguồn lực xã hội. Nếu thể chế còn tạo ra độ trễ lớn, các thủ tục còn vướng mắc thì dù vốn, đất đai hay cơ hội thị trường đã có, chúng vẫn chưa chắc được chuyển hóa thành năng lực sản xuất.

Từ cải cách đến hiệu quả thực thi

Cải cách thể chế chỉ thực sự trở thành dư địa tăng trưởng khi kết quả được cảm nhận trong thực tế. Ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam cho rằng, cần tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi thể chế. “Mặc dù Việt Nam đã đề ra những định hướng chiến lược mạnh mẽ, các cải cách cần được triển khai nhất quán, dựa trên các kết quả có thể đo lường và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Doanh nghiệp và nhà đầu tư cần nhìn thấy những cải thiện thực chất về thủ tục hành chính, tính dự đoán của chính sách và khả năng tiếp cận đất đai, năng lượng, hạ tầng, tài chính và lao động có kỹ năng”, ông nói.

Cùng quan điểm này, tại hội thảo khoa học do Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính tổ chức tháng 9 vừa qua, một trong những kiến nghị được đưa ra là đề xuất xây dựng “thể chế tăng trưởng” như hạ tầng mềm của nền kinh tế, trong đó các luật, cơ chế và chính sách kinh tế quan trọng cần được đánh giá bằng tác động đối với năng suất, đầu tư, đổi mới sáng tạo và khả năng huy động nguồn lực xã hội. Cùng với đó là cải cách cơ chế phân bổ nguồn lực, phát triển các thị trường vốn, đất đai, khoa học - công nghệ, dữ liệu và lao động chất lượng cao, mở rộng các kênh vốn dài hạn cho hạ tầng, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh.

Nếu áp dụng cách tiếp cận này, chất lượng thể chế sẽ không còn chỉ được đo bằng số lượng thủ tục đã cắt, mà bằng kết quả đầu ra: doanh nghiệp có đầu tư nhiều hơn hay không; năng suất có tăng hay không; vốn có đi tới các lĩnh vực tạo giá trị cao hơn hay không; khu vực tư nhân có mở rộng quy mô và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hay không. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng với khu vực kinh tế tư nhân. Doanh nghiệp không chỉ cần ít thủ tục hơn mà còn cần khả năng tiếp cận bình đẳng hơn với đất đai, vốn, dữ liệu, hạ tầng và cơ hội kinh doanh.

Ông Shantanu Chakraborty nhấn mạnh, tăng trưởng cao và bền vững cần dựa trên nền tảng hạ tầng tốt hơn, thể chế vững mạnh hơn, đầu tư tư nhân năng động hơn và thị trường vốn phát triển sâu rộng hơn. Còn TS. Cấn Văn Lực cho rằng, để phát huy các động lực tăng trưởng trong giai đoạn tới, cần đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng các giải pháp cụ thể để huy động, sử dụng và phân bổ nguồn lực hiệu quả, đồng thời chú trọng chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và đóng góp của TFP.

Dù không trực tiếp đóng góp vào tăng trưởng GDP như cách một nhà máy, một tuyến đường hay một dự án đầu tư tạo ra, song thể chế có thể làm cho mỗi đồng vốn, mỗi giờ lao động và mỗi tài sản trong nền kinh tế được sử dụng hiệu quả hơn. Ở giai đoạn mà các nguồn lực đầu vào ngày càng hữu hạn, cải cách thể chế chính là một cách mở rộng dư địa tăng trưởng mà không nhất thiết phải tăng tương ứng quy mô vốn, lao động hay tín dụng. Vì vậy, cải cách đủ sâu, đủ quyết liệt sẽ đưa thể chế thực sự trở thành một nguồn lực phát triển và một động lực của tăng trưởng dài hạn.

Kiến tạo thể chế cho tăng trưởng hai con số

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2026, Thủ tướng yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật gắn với đổi mới tư duy, phương thức xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển. Trọng tâm là kiến tạo thể chế phát triển, tạo lợi thế cạnh tranh, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Đỗ Lê

Tin liên quan

Tin khác

Kế toán carbon trước yêu cầu minh bạch thông tin tài chính

Kế toán carbon trước yêu cầu minh bạch thông tin tài chính

Thị trường carbon phát triển đặt ra yêu cầu mới về quản lý phát thải, đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp tích hợp dữ liệu carbon vào hệ thống kế toán để minh bạch chi phí, nghĩa vụ và rủi ro tài chính.
Kinh tế sinh học - ‘mỏ vàng’ chờ khơi thông

Kinh tế sinh học - ‘mỏ vàng’ chờ khơi thông

Kinh tế toàn cầu đang chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ khi các mô hình tăng trưởng truyền thống dựa trên khai thác tài nguyên hóa thạch hay lao động giá rẻ dần bộc lộ giới hạn. Trong bối cảnh đó, kinh tế sinh học nổi lên như một mỏ vàng mới, không chỉ kiến tạo phương thức sản xuất xanh, tuần hoàn mà còn mở ra dư địa tăng trưởng khổng lồ cho nền kinh tế.
Đà Nẵng thu hút đầu tư vào công nghiệp pin và ô tô

Đà Nẵng thu hút đầu tư vào công nghiệp pin và ô tô

Đà Nẵng đang thúc đẩy thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, sản xuất pin và lắp ráp ô tô, hướng tới tăng cường liên kết chuỗi sản xuất, phát triển công nghiệp hỗ trợ và mở rộng năng lực xuất khẩu.
Vì sao IMF nâng mạnh dự báo tăng trưởng Việt Nam?

Vì sao IMF nâng mạnh dự báo tăng trưởng Việt Nam?

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vừa nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 từ 7,5% lên 8,4%. Báo cáo mới của IMF cho thấy Việt Nam không chỉ nổi bật về tốc độ tăng trưởng mà còn nằm trong nhóm nền kinh tế châu Á hưởng lợi từ chu kỳ công nghệ đang tăng tốc.
Gần 300 công trình nghiên cứu của sinh viên được công bố tại hội thảo quốc tế

Gần 300 công trình nghiên cứu của sinh viên được công bố tại hội thảo quốc tế

Hội thảo quốc tế sinh viên nghiên cứu khoa học lĩnh vực Kinh tế và Kinh doanh lần thứ 5 (SR-ICYREB 2026) thu hút hơn 350 bài nghiên cứu từ sinh viên các trường đại học, học viện trong nước và đối tác quốc tế. Trong đó, 293 công trình được lựa chọn công bố, tập trung vào các vấn đề kinh tế, kinh doanh, chuyển đổi số và phát triển bền vững.
Tăng trưởng không nên dựa quá nhiều vào tín dụng

Tăng trưởng không nên dựa quá nhiều vào tín dụng

Trao đổi với Thời báo Ngân hàng, ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, cho rằng để hướng tới tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần nâng năng suất, phát huy hiệu quả đầu tư công và cải cách thể chế, thay vì dựa quá nhiều vào tín dụng, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Chuyển đổi số phải tạo ra giá trị thực chất cho người dân, doanh nghiệp

Chuyển đổi số phải tạo ra giá trị thực chất cho người dân, doanh nghiệp

Tại chương trình chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026 do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ngày 9/10, yêu cầu chuyển đổi số phải mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp được nhấn mạnh. Những cách làm tại địa phương cũng cho thấy chuyển đổi số đang từng bước gắn với nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng phục vụ.
Đổi mới sáng tạo địa phương 2026: Hà Nội dẫn đầu

Đổi mới sáng tạo địa phương 2026: Hà Nội dẫn đầu

Hà Nội đứng đầu Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2026 với 63,80 điểm, tiếp đến là TP.HCM và Hải Phòng. Kết quả PII năm nay tiếp tục cho thấy sự khác biệt về năng lực đổi mới sáng tạo giữa các địa phương, đồng thời cung cấp căn cứ để nhận diện rõ hơn những điểm mạnh, điểm cần cải thiện trong từng trụ cột phát triển.
Đề xuất gom dự án nhỏ để mở rộng vốn xanh

Đề xuất gom dự án nhỏ để mở rộng vốn xanh

Các chuyên gia đề xuất TP. Hồ Chí Minh nên tổ chức lại các dự án kinh tế tuần hoàn theo nhu cầu ở khu công nghiệp, kết nối cho vay xanh với thuê mua thiết bị, dịch vụ năng lượng và vốn tư nhân, đồng thời hình thành hạ tầng thu hồi tài nguyên quy mô lớn để mở rộng thị trường đầu tư.
Bao bì không còn là

Bao bì không còn là 'lớp vỏ' khi doanh nghiệp xanh hóa, số hóa

Sự phục hồi của sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu đang mở rộng dư địa tăng trưởng cho ngành bao bì Việt Nam năm 2026. Tuy nhiên, cơ hội thị trường cũng đi cùng một “luật chơi” mới khi yêu cầu về vật liệu xanh, khả năng tái chế, truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin ngày càng rõ nét. Điều này buộc doanh nghiệp vừa tận dụng sức cầu, vừa đầu tư công nghệ, tuân thủ môi trường, xã hội và quản trị (ESG)...