Thị trường hàng hóa giằng co tìm kiếm xu hướng giá

09:01 | 22/11/2022

Theo Sở giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), thị trường hàng hóa kết thúc ngày giao dịch đầu tuần (21/11) với diễn biến phân hóa, chia bảng giá hàng hóa nguyên liệu thế giới thành hai nửa xanh đỏ. Chỉ số MXV- Index giằng co và đóng cửa giảm nhẹ 0,14% xuống 2.450 điểm.

thi truong hang hoa giang co tim kiem xu huong gia

Giá trị giao dịch toàn Sở cũng có sự sụt giảm với mức giảm hơn 7%, đạt gần 3.800 tỷ đồng. Trong đó đáng chú ý, dòng tiền vào nhóm năng lượng tăng vọt gần 50%, chiếm hơn 40% tổng giá trị giao dịch của toàn thị trường. Năng lượng cũng là nhóm mặt hàng duy nhất đóng cửa hôm qua trong sắc xanh nhờ mức tăng rất mạnh 7,5% của khí tự nhiên, chốt ở 6,78 USD/triệu đơn vị nhiệt Anh. Trong khi đó ở chiều ngược lại, nhóm kim loại dẫn đầu đà giảm với 9/10 mặt hàng đồng loạt giảm khá mạnh.

Kim loại cơ bản tiếp tục chịu sức ép

Kết thúc phiên giao dịch đầu tuần ngày 21/11, lực bán có xu hướng áp đảo trên thị trường kim loại. Đối với nhóm kim loại quý, giá bạc suy yếu trở lại với mức giảm 0,6% xuống còn 20,87 USD/oz. Trong khi đó, giao dịch bạch kim giằng co liên tục và là mặt hàng duy nhất kết phiên trong sắc xanh với mức tăng 0,37% lên 987,9 USD/oz.

Đồng đô la Mỹ đã có phiên tăng thứ ba liên tiếp khi các nhà đầu tư lo ngại rằng mức đỉnh lãi suất có thể cao hơn kỳ vọng, lên trên 5%, sau khi một số quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thể hiện quan điểm cứng rắn. Bên cạnh đó, thị trường cũng hạn chế giao dịch bằng các loại tiền tệ rủi ro khác trước các đánh giá tiêu cực về triển vọng kinh tế. Đồng đô la Mỹ tăng đã gây áp lực tới chi phí giao dịch kim loại, đặc biệt là với bạc và bạch kim vốn nhạy cảm với lãi suất và biến động tiền tệ.

thi truong hang hoa giang co tim kiem xu huong gia

Đối với nhóm kim loại cơ bản, đồng COMEX ghi nhận chuỗi giảm 6 phiên liên tiếp, chuỗi giảm theo ngày dài nhất kể từ đợt lao dốc hồi tháng Sáu, chốt phiên tại mốc 3,57 USD/pound sau khi giảm 1,67% trước đó.

Số ca nhiễm Covid-19 tại Trung Quốc tiếp tục tăng, hiện đã ở trên mức 26.000 ca, trong đó có thêm 2 ca tử vong tại Bắc Kinh và khiến quận đông dân nhất tại đây phải đóng cửa trong ngày hôm qua. Điều này khiến kỳ vọng về sự nới lỏng chính sách kiểm dịch đang dần lung lay và do đó tác động tiêu cực tới giá kim loại cơ bản.

Tồn kho đồng bắt đầu có dấu hiệu tăng trở lại do nhu cầu yếu và nguồn cung từ các mỏ tăng. Giới chuyên gia cho rằng giá đồng trong năm tới sẽ gặp áp lực khi sản lượng khai thác tăng vọt khoảng 8% lên 24 triệu tấn so với mức tăng chỉ 1,8% trong năm nay.

Tình hình dịch bệnh phức tạp tại Trung Quốc cũng kéo giá quặng sắt suy yếu với mức giảm 3,34% xuống 95,31 USD/tấn.

Thiếc LME giảm mạnh 6,64% xuống 21.159 USD/tấn khi các nhà phân tích của Citi Group cho rằng giá thiếc sẽ giảm xuống còn 18.000 USD/tấn vào quý I năm sau do sản lượng phục hồi và tiêu thụ chậm lại.

Giá dầu giằng co trước loạt tin tức từ OPEC+

Thị trường dầu thô hôm đầu tuần trải qua một phiên giao dịch biến động rất mạnh, tuy nhiên kết thúc phiên giá không thay đổi quá nhiều so với mức tham chiếu cuối tuần trước. Đóng cửa, giá dầu WTI giảm nhẹ 0,09% về 80,04 USD/thùng, giá dầu Brent giảm 0,19% còn 87,45 USD/thùng.

thi truong hang hoa giang co tim kiem xu huong gia

Trong phiên hôm qua, giá của cả hai mặt hàng dầu thô có lúc giảm tới hơn 5 USD/thùng, sau khi tờ báo The Wall Street Journal đưa tin về việc Tổ chức các Nước xuất khẩu dầu mỏ và đồng minh (OPEC+) đang cân nhắc việc tăng sản lượng thêm 500.000 thùng/ngày. Thị trường đã phản ứng mạnh mẽ với tin tức này bằng một lực bán mạnh, bởi tin tức này hoàn toàn “đảo ngược” lại quyết định cắt giảm sản lượng của nhóm vào tháng trước.

Tuy nhiên, sau đó giá hồi phục mạnh mẽ trở lại khi Bộ trưởng Năng lượng Ả Rập Xê-út, Hoàng tử Abdulaziz bin Salman, đã phủ nhận thông tin trên và tái khẳng định rằng OPEC+ sẽ kiên trì với việc cắt giảm sản lượng. Ông cũng nhấn mạnh rằng nhóm sẽ duy trì cắt giảm 2 triệu thùng/ngày tới cuối năm 2023.

Bên cạnh các động thái của OPEC+, thị trường cũng rất quan tâm tới tình hình nguồn cung từ Nga, bởi chỉ còn một tuần nữa các lệnh cấm vận của phương Tây đối với dầu thô của Nga sẽ có hiệu lực. Và mới đây, Nga cũng đã đáp trả rằng họ sẽ không cung cấp dầu thô và các sản phẩm lọc dầu cho các quốc gia thực hiện áp giá trần, thay vào đó Nga sẽ tìm kiếm các đối tác khác hoặc tiến hành cắt giảm sản lượng.

Động thái này càng làm trầm trọng thêm những lo ngại về nguồn cung dầu toàn cầu và thúc đẩy sức mua hồi phục vào cuối phiên, giúp cho giá dầu WTI có thể trụ lại ở mức 80 USD/thùng.

Hiện tổng khối lượng dầu từ Nga đã giảm xuống mức thấp nhất trong 9 tuần là 2,67 triệu thùng/ ngày trong tuần ngày tính đến ngày 18/11. Sự sụt giảm liên tục đã góp phần khiến doanh thu đến từ dầu mỏ hàng tuần của Điện Kremlin xuống mức thấp nhất kể từ đầu tháng Một.

Trái lại, lượng dầu thô trên các tàu hướng đến Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ, cùng với với số lượng dầu trên các tàu chưa cho thấy điểm đến cuối cùng, đã tăng lên mức kỷ lục 2,45 triệu thùng/ngày.

Giá xăng trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm

Trên thị trường nội địa, chiều hôm qua 21/11, Liên Bộ Công Thương - Tài chính đã điều hành giá xăng dầu. Theo đó, sau khi thực hiện việc trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn, giá xăng RON 95-III giảm 80 đồng về 23.780 đồng/lít; E5 RON 92 giảm 40 đồng xuống 22.670 đồng/lít. Cùng với việc điều chỉnh giá, nhà điều hành cũng trích lập mỗi lít xăng RON 95-III là 200 đồng/lít, tăng mức trích lập với E5 RON 92 lên 250 đồng/lít.

Như vậy tính từ đầu năm đến nay, giá mặt hàng xăng đã trải qua 31 lần điều chỉnh, trong đó có 17 lần tăng, 13 lần giảm và một lần giữ nguyên.

Trừ dầu mazut tăng 20 đồng lên 14.780 đồng/kg, các mặt hàng dầu khác đều giảm. Dầu diesel giảm 180 đồng về 24.800 đồng/lít; dầu hoả giảm 100 đồng xuống mức giá mới là 24.640 đồng/lít. Dầu hỏa và diesel tiếp tục không trích Quỹ bình ổn ở kỳ điều hành này, còn dầu mazut có mức trích quỹ 300 đồng/kg.

PL

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000