Thị trường hàng hóa: Lực bán gia tăng trên nhóm năng lượng

09:02 | 25/11/2022

Theo Sở giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), thị trường hàng hóa diễn biến giằng co trong ngày giao dịch hôm qua (24/11), ngày mà Sở Chicago và New York tạm ngừng giao dịch các mặt hàng nông sản và nguyên liệu công nghiệp để nghỉ Lễ Tạ Ơn. Lực bán có phần chiếm ưu thế trên nhóm năng lượng đã kéo chỉ số MXV-Index đóng cửa giảm 0,39% xuống 2.466 điểm.

thi truong hang hoa luc ban gia tang tren nhom nang luong

Phần lớn các mặt hàng giao dịch trong ngày hôm qua đều biến động với biên độ hẹp, dòng tiền vào thị trường cũng có dấu hiệu chững lại, thể hiện tâm lý rất thận trọng của nhà đầu tư, trong bối cảnh hàng loạt các thông tin trái chiều cùng tác động lên giá hàng hóa.

Đô la Mỹ suy yếu hỗ trợ thị trường kim loại

Kết thúc phiên giao dịch ngày 24/11, thị trường kim loại ghi nhận các biến động tương đối giằng co. Đối với nhóm kim loại quý, giá bạc ghi nhận phiên tăng thứ ba liên tiếp với mức tăng 0,76% lên 21,53 USD/oz trong khi giá bạch kim gần như không thay đổi so với phiên trước đó, chỉ giảm nhẹ 0,01% xuống 996,7 USD/oz.

thi truong hang hoa luc ban gia tang tren nhom nang luong

Đồng đô la Mỹ tiếp tục suy yếu và đang tiến sát mức thấp nhất trong vòng 3 tháng đã hỗ trợ cho nhóm kim loại quý như bạc và bạch kim mở cửa phiên với mức giá cao hơn.

Hiện tại, các nhà đầu tư cho rằng lãi suất của Mỹ sẽ đạt đỉnh chỉ trên 5% vào tháng Năm năm sau, với mức tăng chậm lại trong các kỳ họp sắp tới. Điều này sẽ giúp thị trường có thêm thời gian thích ứng và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể xem xét các dữ liệu và điều chỉnh linh hoạt chính sách tiền tệ thắt chặt.

Công cụ theo dõi lãi suất Fed Watch của CME Group đang cho thấy khoảng 75% khả năng Fed sẽ áp mức tăng lãi suất 50 điểm cơ bản trong cuộc họp tháng 12 tới, thay vì 75 điểm cơ bản trong 4 kỳ họp vừa qua.

Tuy nhiên, cả bạc và bạch kim đều gặp áp lực và diễn biến giằng co trong phiên do tâm lý thận trọng của các nhà đầu tư khi đánh giá về nguy cơ suy thoái có thể ảnh hưởng tới nhu cầu kim loại quý trong công nghiệp.

Fed cũng đã thông báo khả năng suy thoái của Mỹ trong năm tới đã tăng lên gần 50%, mức cao nhất kể từ khi cơ quan này bắt đầu tăng lãi suất vào tháng Ba.

Ngân hàng trung ương Thụy Điển đã tăng lãi suất cơ bản thêm 0,75 điểm phần trăm vào hôm qua, lên mức 2,5%, đồng thời báo hiệu sẽ có các đợt tăng lãi suất tiếp theo vào năm tới để chống lạm phát.

Nguy cơ suy thoái tại khu vực châu Âu ngày càng gia tăng tạo áp lực tới nhu cầu tiêu thụ kim loại quý, đặc biệt là trong ngành công nghiệp xanh.

Đối với nhóm kim loại cơ bản, đồng COMEX kết thúc phiên tăng 0,33% lên 3,63 USD/pound. Quặng sắt cũng ghi nhận lực mua tích cực, chốt phiên với mức giá 95,71 USD/tấn sau khi tăng 0,38%.

Bất chấp yếu tố dịch bệnh tiêu cực tại Trung Quốc khi số ca nhiễm Covid-19 đã lên tới gần 30.000 người - mức cao nhất trong thời kỳ đại dịch - có thể làm trì trệ các hoạt động kinh tế, giá phần lớn kim loại cơ bản đều tăng nhẹ trước kỳ vọng chính phủ nước này sẽ có biện pháp thúc đẩy tăng trưởng.

Theo Bloomberg, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) vào cuối tuần này có thể xem xét cắt giảm mức dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại nhằm gia tăng cung tiền cho nền kinh tế.

Ngoài ra, lực mua đối với đồng còn được thúc đẩy bởi một số rủi ro từ nguồn cung khi mới đây, công nhân tại mỏ đồng lớn nhất thế giới Escondida tại Chile đã từ chối những lời đề nghị từ phía giới chủ nhằm giải quyết tranh chấp về lao động trước đó, và đe doạ đình công vào cuối tháng 11.

Giá dầu ít thay đổi

Giá dầu gần như không thay đổi khi kỳ nghỉ Lễ tạ ơn ở Mỹ bắt đầu. Kết thúc phiên 24/11, giá dầu thô WTI tăng nhẹ 0,03% lên 77,96 USD/thùng, giá dầu thô Brent giảm 0,06% về 85,09 USD/thùng.

thi truong hang hoa luc ban gia tang tren nhom nang luong

Diễn biến ít sôi động của giá dầu trong phiên hôm qua một phần là do khối lượng giao dịch giảm đáng kể trong kỳ nghỉ lễ, đồng thời xuất phát từ việc Liên minh châu Âu (EU) vẫn chưa đạt được sự đồng thuận cao về giá trần với dầu thô của Nga.

Sự chia rẽ trong khối ngày càng rõ nét khi mà các nhà ngoại giao châu Âu đang mắc kẹt trong các cuộc đàm phán về mức trần giá, với Ba Lan cho rằng mức giá 65 USD/thùng vẫn còn quá cao và đã bác bỏ đề xuất này. Trong khi đó, Hy Lạp không muốn trần giá dầu thấp hơn 70 USD/thùng.

Các nhà ngoại giao vẫn lạc quan rằng một thỏa thuận có thể giữ không làm gián đoạn nguồn cung dầu từ Nga, đồng thời hạn chế doanh thu của Moscow. Tuy nhiên, không ít nhà phân tích cho rằng vì Nga đã bán dầu của mình với giá chiết khấu nên mức giá trần sẽ không làm ảnh hưởng nhiều tới các hoạt động xuất khẩu nhiên liệu của Nga.

Theo Reuters, Trung Quốc và Ấn Độ - hai đối tác lớn của Nga trong năm nay và cũng là quốc gia nhập khẩu đầu thô lớn nhất và lớn thứ ba thế giới - cũng đang tỏ ra thận trọng hơn trong việc nhập khẩu dầu thô của Nga, bởi các hạn chế liên quan tới vận chuyển của châu Âu sẽ gây ra khá nhiều khó khăn cho các đối tác châu Á trong việc tiếp cận nguồn hàng.

Về phía Nga, thay vì giữ vững quan điểm không bán cho bất kỳ quốc gia nào áp dụng mức trần giá và có thể sẽ cắt giảm sản lượng, quốc gia này đã tỏ ra mềm mỏng hơn khi ám chỉ rằng lập trường này có thể thay đổi.

Một trong những yếu tố hạn chế sức mua trên thị trường dầu hôm qua là việc số ca nhiễm Covid-19 theo ngày tại Trung Quốc đã tăng lên mức cao nhất kể từ khi đại dịch nổ ra. Chính quyền địa phương tại nhiều tỉnh như Trịnh Châu một lần nữa thắt chặt các biện pháp kiểm soát để dập tắt các đợt bùng phát dịch, làm tăng thêm mối lo ngại của các nhà đầu tư đối với nguy cơ suy thoái kinh tế và nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu.

PL

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000