Thị trường ô tô chuẩn bị cho hậu đại dịch

08:25 | 22/09/2021

Nhiều hãng sản xuất ô tô trong nước đang lên kế hoạch cho hoạt động sản xuất, bán hàng không bị gián đoạn sau dịch

Theo số liệu tổng hợp của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), trong tháng 8/2021, thị trường ô tô Việt Nam có tổng cộng 13.376 xe được tiêu thụ, còn tính chung 8 tháng, tổng số 237.678 xe các loại đã được bàn giao đến tay khách hàng trong khắp cả nước. Dẫn đầu doanh số bán hàng của các thương hiệu ô tô tại Việt Nam trong tháng 8 là Toyota, khi bất ngờ vượt qua Hyundai với lượng tiêu thụ được 2.257 xe, đẩy thương hiệu này xuống vị trí thứ 2 khi tiêu thụ được 2.182 xe. Các vị trí tiếp theo là Kia 1.538 xe, Mazda 868 xe, Honda 567 xe, Ford 477 xe…

Đại diện VAMA cho biết, trong những tháng gần đây, kể từ khi đợt dịch Covid-19 thứ 4 bùng phát đến nay, thị trường sản xuất và tiêu thụ ô tô trong nước nhìn chung có sự sụt giảm đáng kể, thậm chí có nhiều đơn vị thành viên đã có những khoảng thời gian phải đóng cửa, tạm dừng sản xuất.

thi truong o to chuan bi cho hau dai dich
Nhiều hãng sản xuất ô tô trong nước đang lên kế hoạch cho hoạt động sản xuất, bán hàng không bị gián đoạn sau dịch

Trong khi một số doanh nghiệp có thể hoạt động trở lại hoặc được sản xuất bình thường thì lại gặp một số trở ngại, khó khăn khác như số lượng xe tồn kho rất lớn do việc dừng hoạt động của các đại lý bán hàng. Ước tính khoảng hơn 200 đại lý ô tô thuộc thành viên VAMA vẫn đang phải đóng cửa và đến nay chưa thể mở cửa trở lại. Cùng với đó là các xưởng dịch vụ cũng không thể hoạt động do dịch bệnh và giãn cách xã hội ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Có thể nói, chuỗi cung ứng và các hoạt động phân phối đã bị đình trệ và bị ảnh hưởng nặng nề, nhiều công ty đã ghi nhận mức sụt giảm doanh số trên 60%.

Một tổng giám đốc tập đoàn sản xuất ô tô trong nước cho biết, do tác động từ đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp kéo dài từ tháng 4 đến nay khiến cho doanh số của các đơn vị sụt giảm đến 50% so với điều kiện bình thường. Bên cạnh đó, tháng 8 vừa qua cũng trùng với tháng “Ngâu”, nên cũng đã phần nào ảnh hưởng đến sức tiêu thụ ô tô trên thị trường ô tô nói chung.

Mặc dù vậy, nhiều hãng sản xuất ô tô trong nước vẫn đang lên kế hoạch chuẩn bị cho hoạt động sản xuất, bán hàng không bị ảnh hưởng, gián đoạn sau dịch, bởi nếu chậm trễ sẽ mất thị phần hoặc “trở tay không kịp” khi các chuyên gia đều nhận định thị trường sẽ sớm mở cửa lại vào đầu quý IV/2021. Đây cũng là thời điểm nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của người dân hồi phục trở lại và tăng cao.

Theo Tổng cục Hải quan, riêng tháng 8 cả nước chi 329 triệu USD nhập khẩu linh kiện và phụ tùng ô tô các loại, dù giảm so với con số 421 triệu USD của tháng 7 trước đó, nhưng vẫn ở mức cao. Tính trong 8 tháng, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng linh kiện và phụ tùng ô tô đạt 3,38 tỷ USD, tăng tới 48,9%, tương ứng tăng 1,1 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường nhập khẩu linh kiện và phụ tùng ô tô của Việt Nam khá đa dạng, nhưng các quốc gia có kim ngạch lớn tập trung hết ở châu Á như: Hàn Quốc (81 triệu USD), Trung Quốc (61 triệu USD), Thái Lan (60 triệu USD), Nhật Bản (40 triệu USD), Ấn Độ (23 triệu USD)… Như vậy, riêng 5 thị trường này đã đạt 265 triệu USD, chiếm tỷ trọng gần 81% trong tổng kim ngạch nhập khẩu linh kiện và phụ tùng ô tô của cả nước vào tháng qua.

Nếu tính về nhập khẩu ô tô nguyên chiếc, hết tháng 8, cả nước nhập khẩu 105.702 xe, kim ngạch 2,35 tỷ USD, tăng 95,6% về lượng và tăng 91,3% về kim ngạch so với cùng kỳ 2020. Điều này cho thấy, những tháng đầu năm, dù dịch Covid-19 diễn biến phức tạp nhưng nhu cầu mua sắm, sử dụng xe nhập khẩu vẫn được duy trì. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu linh kiện ô tô vẫn phải chuẩn bị cho hoạt động sản xuất không bị gián đoạn và được kỳ vọng sẽ khởi sắc sau giãn cách khi lượng hàng hóa, linh kiện nhập khẩu tiếp tục gia tăng.

Dẫn đầu cho xu thế này có thể kể đến hoạt động đầu tư phát triển các nhà máy linh kiện phụ tùng giúp Thaco gia tăng tỷ lệ nội địa hóa một số mẫu xe lên trên 40%, đáp ứng tiêu chí hàm lượng khu vực RVC, để hưởng thuế suất 0% khi xuất khẩu sang các thị trường ASEAN, từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện nay, Thaco tiếp tục đầu tư xây dựng các nhà máy công nghiệp hỗ trợ mới theo hướng tự động hóa, thành lập các nhà máy sản xuất, lắp ráp xe, tham gia chuỗi cung ứng linh kiện OEM cho các nhà sản xuất lắp ráp ô tô tại Việt Nam và đối tác.

Ngoài Thaco, nhiều hãng ô tô trong nước khác cũng nhập linh kiện, phụ tùng phục vụ lắp ráp những mẫu xe trong nước hoặc nhập nguyên chiếc để đón đầu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mua sắm của người dân khi dịch bệnh dần được khống chế. Các chuyên gia đưa ra dự báo từ nay đến cuối năm, thị trường sản xuất, lắp ráp, kinh doanh ô tô sẽ có sự phục hồi trở lại.

Nhật Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.635 22.855 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.654 22.866 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.643 22.853 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
58.000
58.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
58.000
58.700
Vàng SJC 5c
58.000
58.720
Vàng nhẫn 9999
51.500
52.200
Vàng nữ trang 9999
51.100
51.900