Thị trường vàng ngày 13/7: Lình xình ngay trên ngưỡng 1.800 USD/oz

08:54 | 13/07/2021

Giá vàng tiếp tục "lình xình" ngay trên ngưỡng quan trọng 1.800 USD/oz, khi chịu áp lực từ chứng khoán tăng cùng với sức mạnh của bạc xanh, trong khi thị trường chờ đợi số liệu CPI sẽ được công bố vào cuối ngày.

thi truong vang ngay 137 linh xinh ngay tren nguong 1800 usdoz Thị trường vàng ngày 12/7: Giảm nhẹ nhưng vẫn trên ngưỡng 1.800 USD/oz
thi truong vang ngay 137 linh xinh ngay tren nguong 1800 usdoz Giá vàng tuần tới: Kỳ vọng tăng giá khi tâm lý thị trường lạc quan hơn
thi truong vang ngay 137 linh xinh ngay tren nguong 1800 usdoz

Tính đến 9h sáng nay (13/7) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới tăng 2,4 USD/oz (+0,13%) so với cuối phiên trước, lên mức 1.808,9 USD/oz, giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.791,3- 1.810,1 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng Tám tăng 2,5 USD/oz (+0,14%) so với cuối phiên trước, hiện niêm yết ở mức 1.808,4 USD/oz.

Kết thúc phiên giao dịch hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay giảm 0,2%; trong khi giá vàng tương lai giảm 0,3%.

Giá vàng tiếp tục "lình xình" ngay trên ngưỡng quan trọng 1.800 USD/oz, khi áp lực từ chứng khoán tăng cùng với sức mạnh của bạc xanh đã hạn chế những động lực tăng giá gần đây của vàng.

Hôm qua, chỉ số bạc xanh đã tăng 0,15%; trong khi trên thị trường chứng khoán, chỉ số NASDAQ đã tăng 31 điểm, chỉ số S&P 500 tăng 15,08 điểm và chỉ số Dow Jones tăng 126,02 điểm.

Theo các chuyên gia, việc thị trường chứng khoán Mỹ mạnh lên đã hút dòng vốn ra khỏi các tài sản trú ẩn an toàn và chuyển sang tài sản có rủi ro hơn.

Giá vàng chạm mức thấp vào ngày 29/6 ở khoảng 1.750 USD/oz và sau đó được giao dịch cao hơn trong năm ngày giao dịch tiếp theo. Đà tăng này đã kéo giá vàng lên trên mức trung bình động 100 ngày, trước khi hình thành giá cơ sở và đi ngang ngay trên 1.800 USD/oz.

Như vậy, giá vàng đã giao dịch từ 1.750 USD/oz lên mức cao hôm thứ Năm tuần trước là 1.819 USD/oz. Vì vậy, một số nhà phân tích tin rằng đợt giảm giá gần đây chỉ đơn giản là do hành động chốt lời sau khi vàng đã tăng gần 70 USD/oz.

Ở thông tin khác, trong cuộc phỏng vấn với Bloomberg, khi được hỏi liệu đã đến lúc ECB bắt đầu xem xét lại một số chính sách tiền tệ hay chưa, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Christine Lagarde đã nói rằng: "Đây không phải là khoảng thời gian thích hợp để xem xét điều đó".

Tuy nhiên, theo tin từ Reuters, ECB sẽ đưa ra đường lối chính sách mới tại cuộc họp tiếp theo, thể hiện sự thay đổi trong tầm nhìn chiến lược và sự quyết liệt hơn trong việc xử lý lạm phát. Tuần trước, ECB đã công bố một chiến lược mới tương tự như của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) khi chấp nhận để lạm phát tăng cao hơn mục tiêu 2% với lãi suất gần bằng 0.

"Điều này nhằm trấn an các nhà đầu tư rằng chính sách sẽ không bị thắt chặt sớm và củng cố kỳ vọng của họ về tăng trưởng giá...", theo Reuters.

Trong tuần, Chủ tịch Fed Jerome Powell sẽ phát biểu trước Quốc hội với bản cập nhật về chính sách tiền tệ hiện tại của Fed. Dự kiến, ông Powell sẽ tiếp tục khẳng định quan điểm rằng chính sách tiền tệ nới lỏng hiện tại là phù hợp cho đến khi "đạt được những tiến bộ đáng kể hơn" với các mục tiêu mà Fed đưa ra.

Nhiệm vụ khó khăn của Chủ tịch Powell sẽ là thuyết phục Quốc hội Mỹ rằng cần phải duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng hiện tại trong bối cảnh chứng khoán Mỹ mạnh hơn và GDP tiếp tục tăng.

Các chuyên gia cho rằng, việc ECB và Fed tiếp tục khẳng định lập trường chính sách hiện nay có thể là động lực cơ bản cần thiết để giá vàng lên mức cao hơn.

Hiện, thông tin thị trường quan tâm nhất đó là báo cáo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tại Mỹ sẽ được công bố vào cuối ngày.

“Nếu dữ liệu lạm phát hạ nhiệt, điều này sẽ có lợi cho vàng bởi Fed sẽ giảm áp lực phải thu hẹp chương trình mua tài sản sớm, và ngược lại", David Meger, giám đốc giao dịch kim loại tại High Ridge Futures, nói.

thi truong vang ngay 137 linh xinh ngay tren nguong 1800 usdoz

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 56,60 - 57,35 triệu đồng/lượng, giữ nguyên giá mua - bán so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 56,60 - 57,37 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP.HCM niêm yết ở mức 56,70 - 57,28 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội giá vàng DOJI được niêm yết ở mức 56,70 - 57,30 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.400
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.400
57.050
Vàng SJC 5c
56.400
57.070
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800