Thị trường vàng ngày 15/7: Tăng mạnh sau phát biểu của Chủ tịch Fed

09:02 | 15/07/2021

Giá vàng đã bật tăng sau khi Chủ tịch Fed Jerome Powell có bài phát biểu trấn an các nhà đầu tư rằng Fed sẽ tiếp tục chính sách tiền tệ linh hoạt, bất chấp lạm phát tăng đột biến.

thi truong vang ngay 157 tang manh sau phat bieu cua chu tich fed Thị trường vàng ngày 14/7: 'Lình xình' khó hiểu
thi truong vang ngay 157 tang manh sau phat bieu cua chu tich fed Thị trường vàng ngày 13/7: Lình xình ngay trên ngưỡng 1.800 USD/oz
thi truong vang ngay 157 tang manh sau phat bieu cua chu tich fed

Tính đến 9h sáng nay (15/7) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới tăng 0,4 USD/oz (+0,02%) so với cuối phiên trước, lên mức 1.827,7 USD/oz, giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.810,2- 1.831,7 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng Tám tăng 4,8 USD/oz (+0,26%) so với cuối phiên trước, hiện niêm yết ở mức 1.829,8 USD/oz.

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay tăng 1%, trong khi giá vàng tương lai tăng 0,8%.

Giá vàng đã bật tăng sau khi Chủ tịch Fed Jerome Powell có bài phát biểu trấn an các nhà đầu tư rằng Fed sẽ tiếp tục chính sách tiền tệ linh hoạt, bất chấp lạm phát tăng đột biến.

Trong bài phát biểu của mình, Chủ tịch Powell thừa nhận rằng lạm phát cao hơn mức mà Fed muốn thấy. Tuy nhiên, ông nói rằng trung bình lạm phát sẽ "vừa phải".

"Lạm phát đã tăng đáng kể và có khả năng sẽ tiếp tục tăng trong những tháng tới trước khi điều chỉnh", ông Powell nói.

Hiện tại, chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) - thước đo lạm phát ưa thích của Fed - đang ở mức tăng 3,4%, cao hơn nhiều so với mục tiêu hiện tại của Fed là nhỉn hơn 2%. Đáng báo động hơn là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Sáu đã tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 5,4% so với cùng kỳ - mức cao nhất kể từ cuộc suy thoái năm 2008.

Mặc dù Fed thừa nhận họ không lường trước được mức độ lạm phát cao đến như thế, nhưng họ vẫn khẳng định rằng phần lớn áp lực lạm phát chỉ là tạm thời. Dự báo của Fed là chỉ số PCE sẽ giảm xuống 2,1% vào năm 2022 và 2,2% vào năm 2023.

Vì những kỳ vọng này, Chủ tịch Powell cho rằng sẽ là một "sai lầm" nếu Fed "hành động sớm" để chống lại lạm phát, mà cuối cùng nó chỉ là tạm thời. Điều này có nghĩa là Fed sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ hiện nay với việc giữ nguyên chương trình mua tài sản và lãi suất ở mức thấp, cho đến khi có tiến bộ "đáng kể" và hướng tới mục tiêu toàn dụng lao động cùng lạm phát khoảng 2% ổn định trong dài hạn.

Vàng rất nhạy cảm với sự gia tăng lãi suất Mỹ, điều này liên quan đến chi phí cơ hội của việc nắm giữ kim loại quý, cho nên đó là lý do tại sao giá vàng đã phản ứng mạnh mẽ sau những phát biểu của Chủ tịch Powell.

Trên góc độ kỹ thuật, mặc dù tăng mạnh nhưng các chuyên gia phân tích đưa ra cảnh báo rằng mức cao của giá vàng mới đạt được (1.828,60 USD/oz) đang trùng với đường trung bình động 200 ngày, đây là mức kháng cự chính. Nếu mức kháng cự này không thể vượt qua, giá vàng có thể sẽ quay đầu giảm trở lại. Nhưng nếu có sự bứt phá đáng kể và đóng cửa trên mức giá hiện tại, đây sẽ là một sự bứt phá vững chắc.

thi truong vang ngay 157 tang manh sau phat bieu cua chu tich fed

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 56,85 - 57,60 triệu đồng/lượng, tăng 200 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 56,85 - 57,62 triệu đồng/lượng, tăng 200 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP.HCM niêm yết ở mức 56,75 - 57,30 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội giá vàng DOJI được niêm yết ở mức 56,85 - 57,57 triệu đồng/lượng, tăng 100 nghìn đồng/lượng ở giá mua vào và tăng 220 nghìn đồng/lượng ở giá bán ra so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000