Thị trường vàng ngày 7/4: Hạ nhiệt sau nhiều phiên khởi sắc

09:24 | 07/04/2021

Giá vàng có dấu hiệu hạ nhiệt sau nhiều phiên khởi sắc gần đây, bởi thị trường vẫn lo ngại rằng đây là chỉ là phục hồi kỹ thuật và đồng bạc xanh cùng lợi suất trái phiếu có thể sẽ tăng trở lại.

thi truong vang ngay 74 ha nhiet sau nhieu phien khoi sac Thị trường vàng ngày 6/4: Bạc xanh suy yếu giúp giá vàng trụ vững
thi truong vang ngay 74 ha nhiet sau nhieu phien khoi sac Thị trường vàng ngày 5/4: Hạ nhiệt sau khi hồi phục mạnh mẽ

thi truong vang ngay 74 ha nhiet sau nhieu phien khoi sac

Tính đến 9h sáng nay (7/4) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 4,9 USD/oz (-0,28%) so với cuối phiên trước, xuống mức 1.738,7 USD/oz; giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.727,5 - 1.746,8 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 6/2021 giảm 4,7 USD/oz (-0,27%) so với cuối phiên trước, niêm yết ở mức 1.738,3 USD/oz.

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay tăng 0,9%, lên mức cao nhất trong 1 tuần. Trong khi đó, giá vàng tương lai tăng 0,8%.

Vàng hạ nhiệt sau phiên tăng hôm qua với hỗ trợ tạm thời bởi đà suy giảm của đồng bạc xanh và lợi suất trái phiếu Mỹ.

Theo các chuyên gia, việc giá vàng kiểm tra mốc 1.750 USD/oz là rất quan trọng trong nỗ lực quay trở lại mức cao 1.800 USD/oz mà nó đã đạt được vào ngày 25/2.

“Vàng đang có vẻ bắt đầu khởi sắc khi lợi suất trái phiếu kho bạc giảm, mặc dù ngày càng có nhiều thông tin lạc quan về sự phục hồi kinh tế toàn cầu. Mức đáy rõ ràng đã được tạo ra, tuy nhiên một động thái phục hồi hình chữ V cao hơn là khó có thể xảy ra vì lợi suất kho bạc có thể sẽ tăng trở lại”, Ed Moya, nhà phân tích thị trường tại công ty môi giới trực tuyến OANDA nói.

Trong khi đó, Bart Melek, giám đốc chiến lược hàng hóa tại TD Securities, cho biết: "Giá vàng đang phục hồi về mặt kỹ thuật".

Ở góc nhìn khác, chiến lược gia hàng hóa Christopher Louney của RBC Capital Markets cho rằng, thị trường vàng đang chứng kiến ​​sự tương phản hoàn toàn giữa biến động giá năm ngoái và năm nay, khi các động lực chính thúc đẩy giá vàng giờ đây biến thành trở lực.

“Chúng ta đang thấy hình thái khác với quá khứ, những cơn gió đẩy thuyền hiện trở thành những cơn gió ngược”, Louney nói với Kitco News.

Nhận định về giá vàng, ông cho biết động lực tăng trưởng toàn cầu, đồng đô la Mỹ cao hơn, lợi suất trái phiếu tăng và tâm lý chấp nhận rủi ro đều đang đè nặng lên vàng.

"Và ngay cả khi chúng ta thấy sự phục hồi khá lớn của nhu cầu tiêu dùng thì điều đó vẫn chưa đủ để thay đổi triển vọng về giá vàng trong ngắn hạn và trung hạn", ông nhận định.

Nhận định về xu hướng, Louney kỳ vọng giá vàng sẽ dao động quanh mức 1.726 USD/oz trong quý II và quý IV là 1.694 USD/oz.

Louney cũng đưa ra một kịch bản không mong muốn và ít có khả năng xảy ra, đó là cơ hội để giá vàng tăng lên 2.000 USD/oz vào cuối năm nay, nhưng nó sẽ đòi hỏi lạm phát của Mỹ tăng "không kiểm soát".

thi truong vang ngay 74 ha nhiet sau nhieu phien khoi sac

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 54,95 - 55,35 triệu đồng/lượng, tăng 100 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 54,95 - 55,37 triệu đồng/lượng, tăng 100 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại Hà Nội và TP. HCM cùng niêm yết ở mức 54,95 - 55,35 triệu đồng/lượng, tăng 100 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.964 23.174 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.974 23.186 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.970 23.170 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.900
55.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.900
55.300
Vàng SJC 5c
54.900
55.320
Vàng nhẫn 9999
50.850
51.450
Vàng nữ trang 9999
50.450
51.150