Thị trường vàng sáng 20/6: Tiếp đà giảm

09:07 | 20/06/2022

Sáng nay, giá vàng tiếp đà giảm sau khi khép lại tuần trước giảm khoảng 1,9% trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thông báo rằng họ sẽ tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản.

thi truong vang sang 206 tiep da giam Giá vàng tuần tới: Niềm tin vào vàng vẫn khá mạnh mẽ
thi truong vang sang 206 tiep da giam Thị trường vàng sáng 17/6: Quay đầu giảm

Tính đến 9h sáng nay theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 1,1 USD (-0,06%) so với mở cửa xuống 1.838,7 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.834,9 - 1.843,3 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 8/2022 tăng 1,7 USD (+0,09%), hiện giao dịch quanh mức 1.842,2 USD/oz.

thi truong vang sang 206 tiep da giam

Tuần trước, giá vàng đã giảm khoảng 1,9% trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thông báo rằng họ sẽ tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản.

Các chuyên gia phân tích cho rằng, trong ngắn hạn, khả năng phục hồi mạnh của vàng là không cao, thậm chí không loại trừ việc giá quay trở lại mức 1.800 USD/oz.

Phản ứng của kim loại quý trước quyết định tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản của Fed - mức tăng lớn nhất kể từ năm 1994 - là rất đáng khích lệ, ngay cả khi Chủ tịch Fed Jerome Powell hé lộ khả năng một đợt tăng tương tự nữa có thể xảy ra vào tháng Bảy.

Sau khi thông tin được công bố, thị trường chứng khoán đã giảm mạnh, trong khi vàng tăng khoảng 40 USD vào thứ Năm. Tuy nhiên, đà phục hồi chỉ tồn tại trong thời gian ngắn khi giá vàng tương lai tháng 8 giảm xuống 1.841,70 USD/oz vào thứ Sáu, giảm 0,44% trong ngày.

Tuy nhiên, vàng vẫn được cho là tương đối ổn định. Theo giám đốc chiến lược hàng hóa toàn cầu của TD Securities, Bart Melek: "Thể hiện vừa qua của vàng là đáng ngạc nhiên, vì nó thường biến động theo lãi suất chính sách của Fed và lãi suất thực".

Đồng quan điểm, chuyên gia về kim loại quý của Gainesville Coins, Everett Millman, cho rằng diễn biến giá vàng là nổi bật so với các thị trường khác: "Các thị trường khác, thậm chí là đổng tiền trú ẩn an toàn như đô la Mỹ, đã biến động đáng kể. Vàng đã biến động tương đối thấp. Đó là một dấu hiệu của sức mạnh và vàng đang làm tốt công việc của mình - giữ ổn định ngay cả trong bối cảnh hỗn loạn của các tài sản khác".

Mặc dù ổn định, nhưng Millman chỉ ra rằng điều đó không có nghĩa là vàng sẽ có xu hướng tăng giá.

"Chúng tôi đã thấy vàng phục hồi tốt và sau đó sẽ giảm nhẹ trở lại. Tôi dự đoán động thái giá này sẽ diễn ra cho đến cuộc họp tiếp theo của Fed vào tháng Bảy. Vàng sẽ bị giới hạn trong phạm vi hẹp và giao dịch đi ngang cho đến khi chúng ta biết được liệu Fed có tích cực thắt chặt hơn hay không? Việc tăng lãi suất được cho là có hại cho vàng. Nhưng khi lạm phát ở mức cao như hiện nay, Fed sẽ phải mất nhiều đợt tăng lãi suất để đạt được mục đích kiểm soát lạm phát và đó là điều mà vàng cần", Millman nhận định.

Trong quý II, Millman cho biết, giá vàng di chuyển từ 1.800 đến 1.900 USD/oz, với 1.840 USD/oz chuyển từ mức hỗ trợ sang kháng cự và ngược lại.

Ông nói thêm rằng, mặc dù lạm phát vẫn là một trong những trợ lực chính đối với vàng, nhưng rủi ro suy thoái ngày càng gia tăng có thể khuyến khích một số người mua vàng bổ sung nếu các nhà đầu tư tiếp tục lo sợ thua lỗ đối với các tài sản khác.

Trong khi đó, Melek cho rằng: "Tôi nghi ngờ là Fed sẽ không sớm thay đổi quyết định. Rất có thể sẽ có nhiều đợt tăng lãi suất mạnh hơn khi Fed đối mặt với lạm phát tiếp tục cao, có khả năng sẽ đưa vàng trở lại mức thấp nhất trong tháng Năm".

Và điều đó có nghĩa là vàng sẽ quay trở lại phạm vi 1.824 - 1.808 USD/oz trong thời gian tới.

"Vẫn nghĩ rằng giá vàng có thể xuống dưới 1.800 USD/oz vào cuối năm nay. Nhưng còn quá sớm để nói rằng Fed sẽ thất bại. Có thể trong tình huống tăng trưởng bắt đầu chậm lại, chúng ta sẽ thấy lạm phát hạ nhiệt vào tháng 9 hoặc tháng 10", Melek nhận định.

Về xu hướng giá sắp tới, Sunil Kumar Dixit, chiến lược gia kỹ thuật trưởng tại skcharting nhận định rằng: "Trong tuần tới, giá vàng có khả năng sẽ bắt đầu trong vùng trung lập từ 1.830 - 1.850 USD/oz trước khi tìm thấy động thái giá tiếp theo. Nếu giá duy trì trên 1.830 - 1.840 USD/oz sẽ có cơ sở để phục hồi trong ngắn hạn lên 1.850 - 1.860 USD/oz và hướng đến ngưỡng kháng cự tiếp theo 1.878 USD/oz. Nhưng nếu giá không lên được khoảng 1.850 - 1.860 USD/oz thì có thể vàng sẽ kiểm tra lại mức 1.830 - 1.820 USD và thậm chí là 1.805 USD/oz.

thi truong vang sang 206 tiep da giam

Trong số 15 chuyên gia tham gia cuộc khảo sát giá vàng của Kitco News, có 5 chuyên gia tương đương với 33% nhận định giá sẽ tăng trong tuần; 3 chuyên gia, tương đương 20%, cho rằng giá giảm; trong khi 7 người còn lại cho rằng vàng đi ngang.

Trong khi đó, với 1.145 người tham gia thăm dò trực tuyến, có 646 người, tương đương 56%, cho rằng vàng sẽ tăng giá; 280 người, tương đương 24%, cho biết thấp hơn, trong khi 219 người còn lại, tương đương 19%, là trung lập trong thời gian tới.

Ở thông tin khác, cuối tuần trước, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust đã nâng lượng vàng nắm giữ thêm 11,6 tấn lên 1.075,54 tấn.

thi truong vang sang 206 tiep da giam

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 67,90 - 68,70 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 67,90 - 68,72 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP. HCM được niêm yết tại 67,85 - 68,65 triệu đồng/lượng, giảm 50 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và tăng 50 nghìn đồng/lượng ở giá bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại TP.HCM giá vàng DOJI đang được niêm yết ở mức 67,80 - 68,65 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.705 24.015 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.735 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.718 24.018 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.710 24.010 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 23.990 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.730 24.030 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.728 24.020 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.710 24.080 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.780 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
64.700
65.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
64.700
65.700
Vàng SJC 5c
64.700
65.720
Vàng nhẫn 9999
52.250
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.850