Thương chiến Trung - Úc có thể mạnh đến đâu?

10:02 | 15/06/2020

Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Úc đã đi xuống trong những tháng gần đây sau khi Canberra kêu gọi tiến hành một cuộc điều tra quốc tế về nguồn gốc của coronavirus. Một trong những hành động trả đũa để chống lại lập trường này của Úc, Bắc Kinh đã đình chỉ nhập khẩu một số mặt hàng thịt bò, đánh thuế nặng vào lúa mạch và được cho là đang xem xét nhiều hành động hơn đối với các sản phẩm từ rượu vang đến trái cây của Úc.

Hôm thứ Năm tuần trước, Thủ tướng của Úc Scott Morrison cho biết ông sẽ không bị đe dọa bởi những động thái từ Bắc Kinh. “Chúng tôi là một quốc gia giao dịch mở, thân thiện, nhưng tôi sẽ không bao giờ đánh đổi các giá trị của mình để đáp trả sự ép buộc từ bất cứ nơi nào”, Thủ tướng Scott Morrison nói với một tờ báo địa phương được Reuters dẫn lại.

Tuy nhiên theo Gavin Thompson - Phó chủ tịch châu Á Thái Bình Dương về vấn đề năng lượng của Wood Mackenzie (một nhà tư vấn hàng hóa), căng thẳng giữa hai quốc gia đang gây ra mối quan ngại lớn vì xuất khẩu của Úc vào Trung Quốc là rất lớn. “Theo giá trị, Trung Quốc hiện mua khoảng một phần ba tất cả hàng hóa xuất khẩu của Úc và các rủi ro ngoại giao đang diễn ra sẽ lan sang thương mại”, ông nói trong một ghi chú vào thứ ba.

Ảnh minh họa

Tuy nhiên hiện Trung Quốc vẫn chưa nhắm mục tiêu tới hàng hóa nhập khẩu lớn nhất từ Úc là quặng sắt. Đó là bởi vì nền kinh tế lớn thứ hai thế giới có rất ít lựa chọn để cung cấp mặt hàng này vào lúc này. Hai mặt hàng chính khác là than đá và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) cũng hầu như không bị ảnh hưởng.

Trên thực tế, xuất khẩu năng lượng và tài nguyên thiên nhiên của Úc sang Trung Quốc đang bùng nổ, thậm chí còn trong tình trạng “quá tải”, Thompson lưu ý. Khai thác là một trong những đóng góp hàng đầu cho nền kinh tế Úc.

Theo Wood Mackenzie, xuất khẩu quặng sắt và LNG của Úc sang Trung Quốc lần lượt tăng 8% và 9% từ đầu năm đến nay. Nhập khẩu than Úc của Trung Quốc cũng đang tăng mạnh so với trước khi xảy ra đại dịch.

Theo các nhà phân tích, mặc dù mối quan hệ giữa Trung Quốc và Úc có thể trở nên tồi tệ hơn, nhưng việc áp thuế lên các lô hàng quặng sắt, than và LNG cũng sẽ tác động đến sự tăng trưởng của Trung Quốc. “Một động thái như vậy cũng sẽ khiến Trung Quốc phải trả giá. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với việc nhập khẩu năng lượng và quặng sắt của Úc sẽ có tác động ngay lập tức đến cả giá cả và nhu cầu cung ứng của chính Trung Quốc”, Thompson nói thêm.

Trung Quốc là nước tiêu thụ quặng sắt lớn nhất thế giới và đang phụ thuộc rất nhiều vào quặng sắt của Úc, Thompson nói. Trong khi Úc hiện là nhà sản xuất và xuất khẩu quặng sắt lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 60% tổng số lô hàng trên biển thế giới vào năm 2019. Brazil là nước xuất khẩu lớn thứ hai và chiếm 23% quặng sắt toàn cầu năm ngoái. Tuy nhiên sản xuất của đất nước đã bị ảnh hưởng bởi đại dịch, thời tiết ẩm ướt và một thảm họa khai thác lớn trong những tháng gần đây. Wood Mackenzie dự báo xuất khẩu quặng sắt của Brazil sẽ giảm 4% vào năm 2020, sau khi giảm 13% trong năm 2019.

Điều đó khiến Trung Quốc, nước nhập khẩu hơn 60% quặng sắt từ Úc, có rất ít lựa chọn để thay thế. Hơn nữa trong bối cảnh nền kinh tế Trung Quốc đang bị vùi dập bởi coronavirus và Bắc Kinh đang triển khai các biện pháp kích thích lớn để thúc đẩy tăng trưởng, bao gồm chi tiêu cơ sở hạ tầng. Nỗ lực này sẽ đòi hỏi rất nhiều thép, quặng sắt và than để luyện thép để xây dựng và xây dựng. Bởi vậy, việc đặt các hạn chế đối với nhập khẩu quặng sắt của Úc sẽ gây tổn hại cho các nhà sản xuất thép trong nước cho dù Chính phủ Trung Quốc đang hướng tiền kích thích vào xây dựng và cơ sở hạ tầng.

Mới tháng trước, một giám đốc của Hiệp hội Sắt thép Trung Quốc cho biết, mặc dù Trung Quốc có thể thay thế quặng sắt của Úc từ châu Phi, song phải mất từ 4-5 năm nữa trước khi các mỏ ở châu Phi có thể bị khai thác. Nhưng khi một quá trình chuyển đổi như vậy được hoàn tất, Úc sẽ bị mất vĩnh viễn vị thế độc quyền cung cấp quặng sắt cho Trung Quốc, Li Xinchuang - Phó chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp nói với Thời báo Toàn cầu.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.641 22.861 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.660 22.875 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.860 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.150
Vàng SJC 5c
56.500
57.170
Vàng nhẫn 9999
50.550
51.450
Vàng nữ trang 9999
50.150
51.150