TP. HCM: Tìm ngành trọng tâm để phát triển công nghiệp

09:41 | 12/12/2019

Ông Nguyễn Thành Phong, Chủ tịch UBND TP.HCM khẳng định, để phát triển công nghiệp một cách tập trung hơn, hiệu quả hơn, TP.HCM cần phải có giải pháp thiết thực cũng như xác định những ngành công nghiệp trọng tâm cụ thể để tập trung đầu tư ưu tiên phát triển cho phù hợp. 

TP. HCM: Xin lùi thời hạn sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã
Nguồn kiều hối về TP. HCM 8 tháng năm 2019 đạt 3,65 tỷ USD
Cần lựa chọn chính xác các ngành công nghiệp trọng tâm để ưu tiên phát triển

Với tốc độ tăng trưởng bình quân 9,22%/năm, mức tăng trưởng của bốn ngành công nghiệp trọng yếu của TP.HCM tăng cao hơn mức tăng trưởng kinh tế thành phố (8,32%/năm). Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) giai đoạn 2016 - 2020 ước tăng bình quân 7,86%/năm, trong đó, chỉ số sản xuất của 4 ngành công nghiệp trọng yếu ước tăng 8,56%/năm, cao hơn mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp. Mạng lưới các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đã được hình thành và cơ bản đã tạo tiền đề cho các ngành công nghiệp khác phát triển.

Trong đó, Khu Công nghệ cao thành phố là hạt nhân thu hút đầu tư của các tập đoàn, công ty sản xuất công nghiệp, công nghệ tiên tiến, giá trị xuất khẩu tăng mạnh; riêng năm 2019, đã thu hút đầu tư nước ngoài hơn 742 triệu USD, vượt hơn 3,5 lần so kế hoạch đề ra, xuất khẩu đạt 16 tỷ USD, chiếm 38% kim ngạch xuất khẩu của thành phố.

Theo quan điểm của ông Trần Hoàng Ngân, thành viên Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển TP.HCM, phát triển công nghiệp được xem là “xương sống” của kinh tế thành phố nhưng hiện đang gặp nhiều bất cập. Bởi phần lớn doanh nghiệp sản xuất còn phụ thuộc khá lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, còn hạn chế về thiết bị, công nghệ, giá thành, sức cạnh tranh và hàm lượng giá trị gia tăng trong sản phẩm, hàng hóa vẫn còn chưa cao. Chi phí đầu tư cho hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố ngày càng tăng và xu hướng đầu tư ra các tỉnh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố ngày càng lớn.

Hơn thế, một vấn đề rất khó giải quyết hiện nay là quỹ đất dành cho công nghiệp chưa đáp ứng, phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp với đa phần là doanh nghiệp nhỏ và vừa (về diện tích, giá thuê), do đó nhiều doanh nghiệp thành phố đã đầu tư cơ sở sản xuất ra các địa phương lân cận. Bên cạnh đó, tính liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất công nghiệp các ngành, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước với các nhà sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, các doanh nghiệp FDI còn hạn chế.

Lý giải thêm về vấn đề này, ông Ngân cho rằng, tỷ lệ nội địa hoá thấp khiến ngành công nghiệp bị phụ thuộc. TP.HCM chưa thể phát triển ngành có giá trị gia tăng cao mà chỉ tập trung vào những phân khúc gia công. Để có thể cải thiện nội lực và mức tăng trưởng công nghiệp, trong thời gian tới thành phố sẽ phải thực hiện xác định lại các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển.  

Trong khi đó, ông Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công thương cho rằng TP.HCM là trung tâm kinh tế của cả nước, cho nên nếu làm không tốt thì ngành công thương cũng không hoàn thành nhiệm vụ của mình. TP.HCM cần phải chú ý đến những hạn chế cải về cách về chính sách và tài chính các DN vẫn chưa tiếp cận tốt. Thu hút các doanh nghiệp FDI cần tập trung các dự án có tính lan tỏa cao hỗ trợ về công nghệ và tăng cường tính kết nối giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa. Trong bốn ngành công nghiệp trọng điểm mà thành phố đang hướng tới thì TP.HCM nên quan tâm phát triển cơ khí chế tạo như kim loại đúc sẵn và thiết bị điện, hóa dược, công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống. 

Trước thực trạng và những ý kiến trên, ông Nguyễn Thành Phong cho biết, TP.HCM đang chuẩn bị cho Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố trong 5 năm tới (2020 - 2025) với mục tiêu tiếp tục giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế của khu vực và cả nước, đưa thành phố đến năm 2030 trở thành một trung tâm kinh tế, tài chính, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và văn hóa của cả nước và khu vực.

Để làm được điều này, TP.HCM cần xác định các tiêu chí một cách chặt chẽ, khoa học. Về cơ bản phải chú ý đến lợi thế của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, những ngành có khả năng tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, những ngành có tác động lan tỏa rộng đến các ngành kinh tế khác. Cùng với đó, là sử dụng các công nghệ sạch, thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao. Các sản phẩm dần đáp ứng tốt nhu cầu trong nước và tăng nhanh xuất khẩu.

 “Để xác định các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển trong giai đoạn tới cần phải xác định tiêu chí lựa chọn và có số liệu thống kê cụ thể đối với các ngành để làm các cơ sở lựa chọn. Việc lựa chọn này mang tầm chiến lược, nếu chúng ta có quyết định đúng đắn thì thành phố nhất định phát triển. Ngược lại, không những không đem lại hiệu quả, mà còn là rào cản cho sự phát triển, và cũng là sự lãng phí rất lớn cho công sức, kinh phí chúng ta đã đầu tư”, ông Phong khẳng định.

Ngọc Hậu

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000