Trung Quốc nỗ lực bảo vệ đồng nhân dân tệ

07:26 | 29/09/2022

Các nhà giao dịch ngoại hối đang kỳ vọng Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) sẽ triển khai thêm nhiều biện pháp hỗ trợ đồng nhân dân tệ khi mà đồng tiền này tiếp cận mức thấp nhất trong 14 năm.

Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc lao dốc khá nhanh trong thời gian qua, nguyên nhân chủ yếu do sự phân kỳ chính sách giữa Fed và PBoC. Theo đó, trong khi Fed đang tăng nhanh lãi suất để kiềm chế lạm phát thì PBoC vẫn nới lỏng chính sách để hỗ trợ nền kinh tế đang bị vùi dập bởi dịch Covid-19 và sự yếu kém của thị trường bất động sản. Bên cạnh đó sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc cũng là nguyên nhân khiến đồng nhân dân tệ bị bán tháo.

trung quoc no luc bao ve dong nhan dan te
Nhân dân tệ đã giảm giá 11% từ đầu năm

Mặc dù PBoC đã triển khai nhiều giải pháp để bảo vệ đồng nhân dân tệ, nhưng không mấy hiệu quả trong việc ngăn lại đà giảm của đồng nội tệ. Trên thị trường ngoại hối trong nước, đồng nhân dân tệ đã giảm giá khoảng 4% so với đồng USD trong tháng qua, hiện đang giao dịch quanh mức 7,2 CNY/USD, mức thấp nhất kể từ năm 2008. Tính chung từ đầu năm đến nay, đồng nhân dân tệ đã giảm giá 11% so với đồng USD, tốc độ sụt giảm hàng năm lớn nhất kể từ năm 1994.

Mặc dù nhân dân tệ không phải là đồng tiền duy nhất chịu áp lực giảm giá khi đồng đôla Mỹ giao dịch ở mức cao nhất trong 20 năm. Đồng bảng Anh giảm xuống mức thấp kỷ lục trong phiên giao dịch đầu tuần (ngày 26/9). NHTW Nhật Bản cũng đã phải thực hiện các biện pháp can thiệp vào đồng yên lần đầu tiên kể từ năm 1998 vào tuần trước khi đồng tiền này giảm xuống còn 145 JPY/USD.

Tuy nhiên theo các nhà phân tích, việc phá vỡ ngưỡng 7 CNY/USD – ngưỡng quan trọng về mặt tâm lý có thể đẩy đồng tiền này giảm giá nhanh hơn. Patrick Bennett - Chiến lược gia của Ngân hàng thương mại Hoàng gia Canada có trụ sở tại Hồng Kông dự báo, việc rơi xuống mức 7,2 CNY/USD có thể khiến nhân dân tệ nhanh chóng kiểm tra ngưỡng 7,3 CNY/USD.

Điều đó có thể khiến PBoC phải thực hiện nhiều biện pháp hơn để làm chậm đà giảm giá của đồng nội tệ, từ đó ngăn chặn dòng vốn chảy ra khỏi Trung Quốc cũng như duy trì sự ổn định của thị trường tài chính trong nước.

Theo các nhà phân tích, các giải pháp bổ sung có thể bao gồm việc ấn định tỷ giá tham chiếu hàng ngày giữa đồng nhân dân tệ và đồng USD cao hơn so với thực tế, đồng thời bổ sung thêm nguồn cung USD trong nước và siết chặt nguồn tài trợ bằng đồng nhân dân tệ ở nước ngoài để khiến việc bán khống đồng nhân dân tệ trở nên đắt đỏ hơn.

Mingze Wu, một nhà giao dịch ngoại hối tại StoneX Group ở Singapore, cho biết: “Những người chơi trên thị trường rất cảnh giác với việc bán khống đồng nhân dân tệ và PBoC trước đây đã đi trước khi nói đến việc bảo vệ đồng nhân dân tệ.

Trên thực tế PBoC đã báo hiệu sự khó chịu của mình trước sự lao dốc của đồng nội tệ. Hôm 26/9, PBoC đã yêu cầu các ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro 20% đối với doanh số bán kỳ hạn ngoại hối cho khách hàng, khiến việc đặt cược với đồng nhân dân tệ bằng các công cụ phái sinh trở nên đắt hơn.

Trước đó kể từ tháng 8, PBoC cũng đã thiết lập tỷ giá tham chiếu hàng ngày cho đồng nhân dân tệ mạnh hơn nhiều so với dự kiến và giảm yêu cầu dự trữ ngoại tệ của các ngân hàng để làm tăng nguồn cung USD nhằm hỗ trợ đồng nhân dân tệ.

“Các nhà chức trách rõ ràng đang lo ngại”, Patrick Bennett - Chiến lược gia của Ngân hàng Thương mại Hoàng gia Canada cho biết và nói thêm: “Điều đó khiến nhiệm vụ hỗ trợ nền kinh tế trong nước trở nên khó khăn hơn”.

Trong khi theo Jingyang Chen - Chiến lược gia tại HSBC Holdings Plc, các giải pháp tiếp theo có thể là khôi phục lại yếu tố phản chu kỳ trong công thức ấn định đồng nhân dân tệ. Biện pháp này đã được giới thiệu vào năm 2017 trước khi bị loại bỏ vào tháng 10/2020. Các biện pháp khác bao gồm tăng phát hành tín phiếu NHTW ở Hồng Kông để nâng cao tính thanh khoản của đồng nhân dân tệ ở nước ngoài và tăng chi phí đi vay.

Tuy nhiên theo HSBC, chừng nào sự phân kỳ chính sách giữa PBoC và Fed vẫn còn lớn và đồng USD vẫn mạnh, những biện pháp này khó có thể ngăn cản những người bán khống đồng nhân dân tệ.

Thế nhưng Alicia Garcia Herrero - Nhà kinh tế trưởng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Natixis SA lại cho rằng, nếu tất cả các đồng tiền khác tiếp tục suy yếu, PBoC có thể sẽ không bảo vệ mức 7,2 bằng mọi giá. Mặc dù vậy theo bà, nếu tốc độ giảm giá tăng nhanh trong thời gian sắp tới, khi mà Đại hội Đảng Trung Quốc đang đến gần, PBoC sẽ phải hành động.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.320 24.630 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.350 24.630 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.320 24.640 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.380 24.680 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.340 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.350 24.800 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.372 24.637 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.327 24.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.380 24.800 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.410 24.670 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.300
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.900