Tỷ giá là điểm sáng nhất

11:00 | 06/12/2019

Gần đây, NHNN liên tục có những điều chỉnh chính sách lãi suất, tỷ giá. Để tìm hiểu những thay đổi trên tác động ra sao đối với hoạt động ngân hàng nói chung, nền kinh tế nói riêng, phóng viên Thời báo Ngân hàng đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia ngân hàng.

Tỷ giá tính chéo của VND với một số ngoại tệ từ 5/12/2019 đến 11/12/2019
Tỷ giá ngày 5/12: Không nhiều biến động
Tỷ giá hạch toán USD tháng 12/2019 là 23.143 đồng/USD
TS. Nguyễn Trí Hiếu

Theo ông, quyết định giảm lãi suất dự trữ bắt buộc (DTBB) và vượt DTBB có tác động nhiều đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng?

Tôi cho rằng, tác động từ việc giảm lãi suất DTBB là khá nhỏ. Bởi lượng tiền gửi DTBB của các ngân hàng tại NHNN chỉ là 3%, nên mức giảm 0,4%/năm của lần giảm lãi suất tiền gửi DTBB bằng VND này sẽ không ảnh hưởng nhiều đến các ngân hàng. Còn lãi suất đối với tiền gửi vượt DTBB bằng VND là 0%/năm, tôi nghĩ rất ít ngân hàng nào rộng rãi đến mức lại có tiền gửi vượt cả yêu cầu của NHNN về tỷ lệ DTBB. Vì nếu dư dả vốn thì họ đem lên thị trường liên ngân hàng cho vay, mức sinh lời cao hơn nhiều. Nên tôi nghĩ, NHNN có giảm thêm thì tôi nghĩ cũng không tác động nhiều đến chi phí lợi nhuận của ngân hàng. Tiền gửi DTBB là trách nhiệm của ngân hàng nhiều hơn là kỳ vọng sinh lời. Ở Mỹ, việc duy trì tiền gửi DTBB là nhiệm vụ của các ngân hàng, và họ không được trả lãi khoản tiền gửi này.

Ông đánh giá thế nào trước một loạt điều chỉnh chính sách lãi suất của NHNN trong thời gian gần đây không?

Tôi không thấy bất ngờ trước các quyết định điều chỉnh lãi suất của NHNN. Như bạn biết, mặc dù các chỉ số vĩ mô của Việt Nam vẫn khả quan, nhưng nền kinh tế thế giới đang chịu tác động tiêu cực từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Fed liên tục giảm lãi suất, các NHTW khác cũng giảm mạnh lãi suất, nên việc NHNN giảm lãi suất theo xu hướng chung không có gì ngạc nhiên. Động thái giảm nhiều loại lãi suất vào lúc cao điểm cuối năm giúp tiết giảm chi phí vốn, hỗ trợ cho các DN, đặc biệt là các DN xuất khẩu đẩy mạnh sản xuất kinh doanh là rất phù hợp.

Tôi nghĩ có thể NHNN rất muốn giảm lãi suất sớm hơn, nhưng nỗi lo canh cánh trong việc kiểm soát lạm phát vì lạm phát luôn là nỗi ám ảnh lớn của nhà làm chính sách. Vì vậy NHNN phải cân nhắc thời điểm thực hiện nới lỏng chính sách để vừa hỗ trợ nền kinh tế, nhưng vẫn phải đảm bảo kiểm soát lạm phát.

Theo ông vì sao, cuối tuần vừa rồi, NHNN lại điều chỉnh giảm giá mua vào USD?

Tuy đây là điều hiếm thấy vào giai đoạn cuối năm, nhưng nếu quan sát trên thị trường có thể thấy thanh khoản ngoại tệ đang dồi dào từ nhiều kênh. Trong điều hành tỷ giá, ngoài việc luôn quan tâm đến cung – cầu thị trường, NHNN phải “để mắt” tới nhiều yếu tố khác để điều tiết chẳng hạn như xuất khẩu… Vậy nên NHNN giảm giá mua vào USD cũng là bình thường. Điều này còn giúp cho NHNN tranh thủ mua thêm ngoại tệ bổ sung nguồn dữ trự ngoại hối với giá thấp hơn, tiết kiệm chi phí cho nhà nước.

Vậy ông đánh giá thế nào về diễn biến tỷ giá trong thời gian tới?

Phải khẳng định rằng, tỷ giá là điểm sáng nhất trong bức tranh hoạt động ngân hàng từ đầu năm đến nay. Tỷ giá của Việt Nam duy trì được sự ổn định trong biên độ hẹp trước biến động thị trường quốc tế là điều đáng ngạc nhiên. Ngoài những yếu tố hỗ trợ từ khách quan, tôi nghĩ, NHNN đã thành công trong điều hành chính sách tỷ giá giữ ổn định giá trị VND. Chỉ còn chưa đầy 1 tháng nữa là kết thúc năm 2019, tôi cho rằng, tỷ giá tiếp tục duy trì ổn định.

Bước sang năm 2020, sức ép trong điều hành tỷ giá là vẫn còn hiện hữu như cuộc chiến tranh Mỹ - Trung chưa hồi kết, căng thẳng có thể quay trở lại bất cứ lúc nào, tình hình xuất khẩu của Việt Nam chưa biết diễn biến ra sao… Song, nếu tình hình thế giới không có biến động quá mạnh, với công cụ của chính sách tiền tệ, VND đang trở nên mạnh hơn, tăng trưởng kinh tế tích cực, tôi tin rằng, NHNN vẫn sẽ giữ được sự ổn định của tỷ giá trong thời gian tới.

Xin cảm ơn ông!

Hà Thành thực hiện

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950