Tỷ giá ngày 22/4: Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ

10:16 | 22/04/2021

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (22/4), trong khi tỷ giá trung tâm đảo chiều tăng nhẹ sau 4 phiên giảm liên tiếp thì giá mua - bán đồng bạc xanh tại nhiều ngân hàng hầu như không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 224 ty gia trung tam nhich nhe Điểm lại thông tin kinh tế ngày 20/4
ty gia ngay 224 ty gia trung tam nhich nhe Tỷ giá ngày 20/4: Bạc xanh chạm mức thấp nhất trong 6 tuần

ty gia ngay 224 ty gia trung tam nhich nhe

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.183 VND/USD, tăng nhẹ 1 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã tăng trở lại sau 4 phiên giảm liên tiếp.

ty gia ngay 224 ty gia trung tam nhich nhe

Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hiện ở mức 23.125 VND/USD đối với mua vào và 23.828 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán đồng bạc xanh tại nhiều ngân hàng hầu như không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 224 ty gia trung tam nhich nhe

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.955 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.990 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 23.150 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 23.186 VND/USD.

ty gia ngay 224 ty gia trung tam nhich nhe

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 91,051 điểm, giảm -0,062 điểm (-0,07%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh đang giao dịch gần mức thấp nhất trong nhiều tuần so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt, khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ giảm trở lại xóa mờ sức hấp dẫn của đồng bạc xanh.

Tâm lý đối với đồng bạc xanh đã yếu đi khi lợi suất trái phiếu giảm sau mức tăng đột biến trong tháng trước, nhưng một số nhà phân tích cho rằng, triển vọng dài hạn vẫn tích cực do triển vọng nền kinh tế Mỹ sáng sủa và chương trình tiêm chủng được cải thiện.

Tháng trước, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ đã tăng vọt lên mức cao nhất trong hơn một năm do lo ngại trước khả năng lạm phát tăng nhanh, điều này khiến nhiều nhà đầu cơ đổ xô vào đồng bạc xanh.

Tuy nhiên, lượng giao dịch với bạc xanh đã bắt đầu giảm trong tháng này khi lợi suất đảo chiều và các nhà đầu tư hiện đang chờ đợi cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vào tuần tới để tìm định hướng trước khi quyết định các giao dịch mới.

“Chúng tôi nhận thấy rằng nhu cầu đối với trái phiếu kho bạc vẫn khá tốt, có nghĩa là không có áp lực tăng lên đối với lợi suất", Junichi Ishikawa, chiến lược gia ngoại hối cấp cao tại IG Securities nói và cho biết thêm: “Trong bối cảnh hiện nay, đồng bạc xanh sẽ tiếp tục giảm so với đồng yên, trong khi đồng euro sẽ tăng vì có những dấu hiệu cho thấy ECB lạc quan hơn về triển vọng kinh tế, điều này đặt ra câu hỏi về việc cắt giảm mua trái phiếu”.

Đồng euro là tiêu điểm của thị trường trước cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vào cuối ngày hôm nay, nơi bất kỳ nhận xét tích cực nào về triển vọng kinh tế hoặc gợi ý về việc giảm mua trái phiếu đều ​​sẽ khiến đồng tiền chung tăng giá.

ECB dự kiến ​​sẽ không thay đổi chính sách hiện nay, nhưng các nhà phân tích cho rằng cuộc họp này sẽ tạo tiền đề cho các điều chỉnh có thể xảy ra tại cuộc họp tháng 6, khi các nhà hoạch định chính sách phải quyết định xem có nên giảm bớt việc mua trái phiếu hay không.

Sáng nay, đồng bạc xanh đứng ở mức 107,99 yên, gần với mức thấp nhất trong bảy tuần.

Đồng euro được báo giá ở mức 1,2044 USD, không xa mức cao nhất kể từ ngày 3/3; trong khi bảng Anh giao dịch ở 1,3943 USD, tăng nhẹ 0,09%.

Đồng đô la Canada gần như đi ngang so với đồng bạc xanh, trong bối cảnh Ngân hàng Trung ương Canada phát đi tín hiệu rằng họ có thể bắt đầu tăng lãi suất vào cuối năm 2022, sau khi cắt giảm tốc độ mua trái phiếu, trở thành là ngân hàng đầu tiên trong nhóm G7 lên kế hoạch rút bớt các biện pháp kích thích bất thường vì đại dịch.

Sáng nay, đồng đô la Canada vẫn ở sát mức cao nhất trong sáu tuần, giao dịch ở mức 1,2499 USD.

Đô la Úc và New Zealand đã giao dịch gần mức cao nhất trong một tháng so với đồng bạc xanh, được hỗ trợ bởi suy đoán rằng ngân hàng trung ương các nước này có nhiều khả năng "theo gương" Canada do triển vọng kinh tế được cải thiện.

Hiện, tỷ giá cặp AUD/USD đang ở mức 0,7754; cặp NZD/USD ở 0,7207.

ty gia ngay 224 ty gia trung tam nhich nhe

P.L

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.910 23.140 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.940 23.140 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.929 23.139 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.970 23.130 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.940 23.120 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.940 23.120 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.939 23.151 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.930 23.130 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.940 23.120 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.960 23.120 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.170
56.540
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.170
56.520
Vàng SJC 5c
56.170
56.540
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900