Tỷ giá sáng 7/9: Tăng phiên thứ ba liên tiếp

09:22 | 07/09/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 9h sáng nay (7/9), trong khi tỷ giá trung tâm có phiên tăng thứ ba liên tiếp thì giá mua - bán bạc xanh nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia sang 79 tang phien thu ba lien tiep Điểm lại thông tin kinh tế ngày 6/9
ty gia sang 79 tang phien thu ba lien tiep Tỷ giá sáng 6/9: Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng

ty gia sang 79 tang phien thu ba lien tiep

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.261 đồng, tăng 16 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm có phiên tăng thứ ba liên tiếp với tổng mức tăng là 42 đồng.

ty gia sang 79 tang phien thu ba lien tiep

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN trong sáng nay ở 22.550 VND/USD đối với giá mua vào và 23.400 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia sang 79 tang phien thu ba lien tiep

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.370 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.460 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 23.650 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 23.908 VND/USD.

ty gia sang 79 tang phien thu ba lien tiep

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt, cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 110,518 điểm, tăng 0,267 điểm (+0,24%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh tăng và đạt đỉnh 24 năm so với yên Nhật, đạt mức cao mới so với đô la Úc và New Zealand, sau khi dữ liệu kinh tế của Mỹ củng cố quan điểm rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.

Trong khi đó, euro tiếp tục suy yếu và xuống gần mức thấp nhất trong hai thập kỷ, thấp hơn nhiều so với mức ngang giá so với đô la Mỹ, khi các bộ trưởng Liên minh châu Âu chuẩn bị nhóm họp trong tuần này để thảo luận về cuộc khủng hoảng năng lượng đang tác động đến ngành công nghiệp và ảnh hưởng đến các hộ gia đình.

Báo cáo vừa được công bố cho thấy ngành dịch vụ của Mỹ đã bất ngờ tăng điểm vào tháng trước, củng cố quan điểm rằng nền kinh tế không suy thoái và cho phép Fed còn dư địa cho một đợt tăng lãi suất cơ bản 75 điểm cơ bản vào cuộc họp chính sách cuối tháng này, theo lịch trình sẽ kết thúc vào ngày 21/9.

Các thị trường hiện đưa ra xác suất 73% cho kịch bản Fed sẽ tăng lãi suất 75 điểm cơ bản, và 23% khả năng tăng 50 điểm cơ bản.

Sáng nay, bạc xanh đã tăng 0,43% so với yên Nhật lên 143,29 JPY/USD, khi lợi suất trái phiếu kho bạc của Mỹ tăng.

Đồng tiền Nhật Bản rất nhạy cảm với những biến động về lợi suất trái phiếu dài hạn của Mỹ, trong khi lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ đã tăng lên 3,365%, mức cao nhất kể từ ngày 16/6.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhật Bản Shunichi Suzuki hôm thứ Ba cho biết, sự biến động thị trường gần đây là rất cao và các nhà chức trách đang theo dõi sát sao biến động của đồng yên Nhật.

Rikiya Takebe, chiến lược gia cấp cao tại Okasan Securities, cho rằng những bình luận trên của các nhà hoạch định chính sách Nhật Bản không phải là điều gì mới mẻ.

Một số chuyên gia phân tích khác cho rằng, việc ông Suzuki đã không nhắc lại ngôn từ mạnh mẽ được sử dụng vào tháng Bảy, khi ông nói rằng ông "lo ngại" sau khi đồng yên Nhật giảm giá vượt quá 139 so với bạc xanh, cho thấy sự can thiệp vào thị trường tiền tệ có thể sẽ không xảy ra.

“Việc can thiệp tiền tệ hoặc sửa đổi chính sách của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) có thể sẽ rất khó khăn và cũng không dễ để họ có thể ngăn yên Nhật giảm giá. Các ngân hàng trung ương khác đang ưu tiên đối phó với lạm phát, và không có khả năng lo lắng về biến động tỷ giá hối đoái", Takebe nói.

Vị này cũng thêm rằng, có thể sẽ có một số biện pháp phòng vệ nếu tỷ giá JPY/USD lên mức 145.

Sáng nay, euro giảm 0,2% xuống tương đương 0,9884 USD, sau khi giảm xuống mức thấp 0,9864 trước đó.

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) được cho là có khả năng đưa ra mức tăng lãi suất 75 điểm cơ bản tại cuộc họp vào thứ Năm, nhưng các nhà đầu tư dường như tập trung hơn vào quyết định của Nga khi tuyên bố đóng cửa vô thời hạn đường ống dẫn khí đốt Nord Stream 1.

Theo Reuters, các bộ trưởng năng lượng EU họp vào thứ Sáu và sẽ thảo luận về các lựa chọn, bao gồm giới hạn giá khí đốt và hạn mức tín dụng khẩn cấp cho các bên tham gia thị trường năng lượng.

Bảng Anh sáng nay giảm 0,37% xuống 1,1477 USD, tiệm cận mức thấp nhất kể từ tháng 3/2020, do Anh cũng vướng vào cuộc khủng hoảng năng lượng, bất chấp kế hoạch của tân thủ tướng Lizz Truss về một gói hỗ trợ lớn.

Ở những nơi khác, đô la Úc giảm 0,42% xuống 0,6707 USD, trước đó nó đã chạm mức thấp nhất kể từ ngày 14/7. Đồng tiền này nhận được ít hỗ trợ từ việc Ngân hàng Trung ương Úc tăng lãi suất đúng như dự đoán - tăng thêm 50 điểm cơ bản ​vào hôm thứ Ba.

Đô la New Zealand sáng nay giảm 0,43% xuống 0,6011 USD, mức thấp nhất kể từ tháng 5/2020.

ty gia sang 79 tang phien thu ba lien tiep

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450