WB: Kinh tế toàn cầu năm 2022 sẽ tăng trưởng chậm

13:58 | 12/01/2022

Ngày 11/1, Ngân hàng thế giới (WB) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ đi xuống rõ rệt trong năm 2022 trong bối cảnh các biến thể COVID-19 lan rộng, kết hợp với lạm phát, nợ và bất bình đẳng đã và đang làm gia tăng bất ổn.  

Kinh tế thế giới đang chậm lại

Trong báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu, WB dự báo mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ giảm xuống còn 4,1% trong năm 2022, thấp hơn so với mức 5,5% của năm 2021, thậm chí có thể giảm tiếp xuống còn 3,2% trong năm tới khi mà các chính phủ thu hẹp chương trình hỗ trợ tài chính và tiền tệ vốn được ban hành trong thời gian đại dịch.

kinh te toan cau nam 2022 tang truong cham
Công nhân làm việc tại một nhà máy ở tỉnh An Huy, Trung Quốc)_Nguồn: AFP

Dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2021 và năm 2022 thấp hơn 0,2% so với báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu mà WB công bố hồi tháng 6 năm ngoái. Dự kiến, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng sẽ hạ dự báo tăng trưởng kinh tế trong bản báo cáo công bố vào ngày 25/1 tới.

Dự báo tăng trưởng kinh tế mới nhất của WB đã đề cập đến sự hồi phục mạnh mẽ trong hoạt động kinh tế ở các nền kinh tế phát triển và đang phát triển vào năm 2021 sau khi sụt giảm vào năm 2020. Tuy nhiên, WB cảnh báo lạm phát kéo dài, các vấn đề về chuỗi cung ứng và lực lượng lao động cùng với sự xuất hiện của các biến thể mới có khả năng cản đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

“Các nước đang phát triển đang đối mặt với các vấn đề dài hạn nghiêm trọng liên quan đến tỉ lệ tiêm chủng thấp hơn, các chính sách vĩ mô toàn cầu và gánh nặng nợ" - Chủ tịch nhóm WB David Malpass cho hay.

Ông cũng đề cập tới các vấn đề về tỉ lệ đói nghèo, dữ liệu dinh dưỡng và sức khỏe cũng như tác động vĩnh viễn từ việc đóng cửa trường học. Ông chỉ ra, trẻ 10 tuổi ở các nước có thu nhập thấp và trung bình không thể đọc một câu chuyện cơ bản đã tăng từ 53% lên tới 70%.

Ông Ayhan Kose, Giám đốc Chương trình Báo cáo Triển vọng của WB, cho rằng tốc độ tăng trưởng của kinh tế thế giới đang chậm lại rõ rệt trong khi chính phủ các nước có kế hoạch thu hẹp chương trình hỗ trợ và có nhiều rủi ro đối với kinh tế thế giới. Ông nêu rõ sự lây lan nhanh chóng của biến thể Omicron cho thấy tình trạng gián đoạn tiếp diễn và việc hệ thống y tế bị quá tải do số ca mắc gia tăng có nguy cơ khiến dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm thêm 0,7%.

Cần nhiều chính sách để đối phó thách thức

Báo cáo của WB dự đoán tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế phát triển sẽ giảm xuống còn 3,8% trong năm nay, thấp hơn so với mức 5% trong năm ngoái và có thể giảm mạnh xuống còn 2,3% trong năm 2023. Tuy nhiên, WB cho rằng sản lượng và hoạt động đầu tư của những nền kinh tế này sẽ trở lại xu hướng trước đại dịch vào năm 2023.

Xét theo từng quốc gia, WB đã hạ tăng trưởng GDP của Mỹ trong năm 2021 xuống còn 5,6% và dự báo mức này sẽ giảm tiếp trong năm 2022 và năm 2023, lần lượt xuống còn 3,7% và 2,6%. Trong khi đó, tăng trưởng GDP của Nhật Bản trong năm 2021 là 1,7%, thấp hơn 1,2% so với dự báo hồi tháng 6 năm ngoái, song sẽ tăng lên mức 2,9% trong năm nay.

Theo báo cáo, Trung Quốc dự kiến đạt mức tăng trưởng 8% trong năm 2021, thấp hơn 0,5% so với dự báo trước đó. WB cũng dự đoán tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sẽ chậm lại, ở mức 5,1% trong năm 2022 và 5,2% trong năm tiếp theo.

Đối với các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, WB dự báo tốc độ tăng trưởng của những nước này sẽ chậm lại ở mức 4,6% trong năm 2022, thấp hơn so với 6,3% của năm 2021 và tiếp tục giảm xuống còn 4,4% trong năm 2023.

WB cũng lưu ý rằng lạm phát gia tăng, vốn ảnh hưởng nặng nề đến người lao động có thu nhập thấp, đã ghi nhận ở mức cao nhất kể từ năm 2008 tại các nền kinh tế phát triển và cao nhất kể từ năm 2011 ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển.

“Nền kinh tế mới nổi và đang phát triển sẽ cần phải sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ một cách thận trọng, đồng thời cần thực hiện những cải cách để giải quyết những hậu quả của đại dịch. Các chương trình cải cách cần được xây dựng để cải thiện đầu tư và vốn con người, giảm bất bình đẳng giới và khoảng cách thu nhập, cũng như đối phó với những thách thức của biến đổi khí hậu”- ông Ayhan Kose lưu ý.

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.550 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.580 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.596 22.896 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.640 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.860 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.605 22.892 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.645 22.930 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.620 22.820 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.660 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.100
61.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.100
61.700
Vàng SJC 5c
61.100
61.720
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.950