WB: Kinh tế Việt Nam trên đà phục hồi nhưng cần thận trọng với lạm phát

14:25 | 12/05/2022

Nền kinh tế Việt Nam đang lấy được đà phục hồi nhưng cần thận trọng với lạm phát và rủi ro khi nhu cầu toàn cầu yếu hơn và gián đoạn nguồn cung ảnh hưởng đến triển vọng kinh tế, theo báo cáo Cập nhật Tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 5/2022 của Ngân hàng Thế giới (WB) vừa được công bố.

wb kinh te viet nam tren da phuc hoi nhung can than trong voi lam phat

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 chưa có hồi kết và xung đột Nga - Ukraine tạo nên những thay đổi rất lớn về cơ hội và thách thức phát triển kinh tế của các quốc gia trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam, báo cáo cho hay, chỉ số sản xuất công nghiệp và doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng 4 tăng trưởng lần lượt 9,4% và 12,1% (so cùng kỳ năm trước), tương đương tốc độ trước đại dịch.

Đáng chú ý, xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh hơn trong khi tăng trưởng nhập khẩu lại đi ngang, phản ánh sự gián đoạn chuỗi cung ứng do tác động của chính sách Zero Covid ở Trung Quốc.

Bên cạnh đó, vốn FDI giải ngân vẫn tăng trưởng mạnh trong khi vốn FDI đăng ký giảm tháng thứ 3 liên tiếp.

Lạm phát CPI nhích nhẹ từ tỷ lệ 2,4% trong tháng 3 lên 2,6% trong tháng 4 và lạm phát cơ bản tăng lên 1,5%, một phần phản ánh nhu cầu trong nước vốn đang phục hồi lại được đẩy lên bởi chi tiêu tiêu dùng cho hai kỳ nghỉ lễ tăng.

Điểm đáng chú ý là tăng trưởng tín dụng được đẩy mạnh để đáp ứng nhu cầu đang ngày tăng cao. Cụ thể, tăng trưởng tín dụng tăng tốc từ 15,9% trong tháng 3 (so cùng kỳ năm trước) lên 16,4% trong tháng 4 (so cùng kỳ năm trước), tốc độ cao nhất kể từ tháng 1/2018.

Tăng trưởng tín dụng nhanh hơn có thể phản ánh nhu cầu tín dụng cao hơn do người tiêu dùng tăng chi tiêu cho hai kỳ nghỉ lễ dài và các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng được kỳ vọng sẽ tăng mạnh trong mùa hè.

wb kinh te viet nam tren da phuc hoi nhung can than trong voi lam phat

Mặc dù vậy, lãi suất qua đêm liên ngân hàng vẫn giảm từ 2,08% vào cuối tháng 3 xuống còn 1,37% trong tháng 4, thấp hơn nhiều so với lãi suất chiết khấu 2,5% của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Lãi suất giảm cho thấy thanh khoản tương đối dồi dào trên thị trường trong nước. Điều này có thể phản ánh mức thặng dư ngân sách nhà nước đáng kể và sự tăng trưởng mạnh hơn của tiền gửi từ khu vực tư nhân sau khi một số ngân hàng nâng lãi suất.

Kho bạc Nhà nước phát hành lượng trái phiếu chính phủ bằng nội tệ có giá trị tương đương 201 triệu USD trong tháng 4, toàn bộ đều có kỳ hạn dài (mười năm trở lên). Lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm trên thị trường sơ cấp tăng nhẹ từ 2,20% vào cuối tháng 3 lên 2,28% vào cuối tháng 4.

Cùng lúc đó, tỷ lệ trúng thầu, tức là tỷ lệ giá trị trái phiếu trúng thầu trên giá trị trái phiếu được Kho bạc Nhà nước mời thầu, đã giảm tháng thứ 3 liên tiếp, từ 31% trong tháng 3 xuống còn 22% trong tháng 4, tỷ lệ thấp nhất trong 12 tháng qua.

Trong 4 tháng đầu năm 2022, tổng khối lượng trái phiếu phát hành (bao gồm trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh) đạt 11,5% kế hoạch năm, thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm trước (18,7%).

Cần thận trọng với lạm phát và rủi ro

Theo WB, nền kinh tế Việt Nam đang lấy được đà phục hồi bất chấp những bất định toàn cầu gia tăng liên quan đến cuộc xung đột kéo dài ở Ukraine, giá hàng hóa thế giới tăng và điều kiện tài chính toàn cầu đang thắt chặt nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần theo dõi.

Cả lạm phát cơ bản và giá lương thực, thực phẩm đều tiếp tục nhích lên, cho thấy cần phải theo dõi chặt chẽ. Nếu lạm phát tiếp diễn trong trung hạn thì nền kinh tế nên được cho phép điều chỉnh theo mức giá cả cao hơn, với các cấp có thẩm quyền đóng vai trò cung cấp các ưu đãi khuyến khích đầu tư nhằm nâng cao năng suất và tổng cung.

Gián đoạn chuỗi cung ứng có thể tiếp tục nâng giá nhập khẩu và ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ giá thương mại.

Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Trung Quốc, ba đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, được kỳ vọng sẽ đạt tốc độ tăng trưởng thấp hơn dự kiến trong năm 2022 và điều này có thể ảnh hưởng đến viễn cảnh xuất khẩu của Việt Nam.

Ngoài ra, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai và là nguồn nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam nên tác động toàn phần của tình trạng phong tỏa ở quốc gia này đối với hoạt động sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo và xuất khẩu của Việt Nam sẽ còn được cảm nhận trong những tháng tới. Điều này cho thấy đa dạng hóa đối tác thương mại sẽ là một cân nhắc chiến lược để giảm nhẹ rủi ro và đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu được duy trì.

“Các cấp có thẩm quyền vẫn cần thận trọng với lạm phát và các rủi ro đối với việc duy trì tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ như hiện nay”, WB lưu ý.

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700