Xi măng đổ bộ vào Trung Quốc, mừng hay lo?

14:00 | 17/12/2018

Nhìn chung, chuyện xuất khẩu xi măng của DN Việt sang Trung Quốc trước mắt vẫn là một giải pháp tốt giúp DN trong nước giải quyết tình trạng dư cung như hiện nay. Tuy nhiên, về lâu dài cũng cần có sự điều chỉnh.

Ngành Xi măng: Những nút thắt cần tháo gỡ triệt để
Xi măng: Tiêu thụ nội địa giảm, sức ép từ thị trường xuất khẩu
Thuế tác động mạnh đến ngành xi măng

Theo Global Cement, Việt Nam là nhà sản xuất xi măng lớn thứ 3 thế giới, chỉ xếp sau Trung Quốc và Ấn Độ, với sản lượng 148 triệu tấn mỗi năm. Theo thống kê, Việt Nam có tổng cộng 74 nhà máy sản xuất và hầu hết đều do nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát hoặc sở hữu. Mặc dù thực tế là các nhà máy không hoạt động hết công suất lắp đặt, nhưng sản lượng sản xuất xi măng ở Việt Nam vẫn ở mức khá cao và tình trạng dư thừa nguồn cung đã xuất hiện trong vòng vài năm trở lại đây. Xét về tổng sản lượng thực tế, Việt Nam sản xuất được 78 triệu tấn trong năm 2017, con số này tăng lên 83 triệu tấn vào năm 2018 và dự kiến, tổng sản lượng sản xuất của các nhà máy năm 2019 sẽ đạt gần 90 triệu tấn.

Xi măng là ngành có mức tiêu thụ năng lượng cao, gây ô nhiễm không khí

Có được sản lượng trên phải thừa nhận rằng Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi về nguồn nhiên liệu, thế nên việc sản xuất xi măng ở Việt Nam đã tăng nhanh về sản lượng cũng như số công ty gia nhập ngành. Có điều, sản lượng sản xuất tăng cao, trong khi cầu không hấp thu được đã đẩy ngành vào tình trạng dư cung.

Theo Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA), cả nước phải đối mặt với thặng dư 26 triệu tấn xi măng trong năm 2017. Lời giải cho bài toán dư cung chính là xuất khẩu và thị trường lớn nhất chính là Trung Quốc, khi quốc gia này đã quyết định cắt giảm sản lượng xi măng nội địa 10% trong năm 2018. Chỉ trong 10 tháng đầu năm 2018, giá trị xuất khẩu xi măng Việt Nam đạt mức cao nhất trong bốn năm trở lại đây, leo lên mức 1,1 tỷ USD và sẽ còn tiếp tục tăng trong hai tháng cuối năm 2018.

Xét về số liệu, tính đến giữa tháng 11/2018, Trung Quốc là nhà nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, với khối lượng hơn 7,6 triệu tấn và giá trị đạt hơn 276 triệu USD. Bangladesh đứng thứ hai với khối lượng nhập gần 6 triệu tấn. Tại khu vực Đông Nam Á, Philippines là đối tác quan trọng nhất, họ đã nhập khẩu 5,5 triệu tấn xi măng trong 10 tháng/2018. Giá bán trung bình của Việt Nam thay đổi theo từng quốc gia đối tác. Các nước Đông Nam Á đang nhập khẩu xi măng với giá cao nhất. Cụ thể, Campuchia đang nhập khẩu xi măng từ Việt Nam với 51,6 USD/tấn và Philippines phải trả 46,4 USD cho mỗi tấn nhập khẩu. Trung Quốc, với sức mạnh đàm phán, chỉ dành 36,3 USD nhập khẩu một tấn xi măng từ Việt Nam.

Lại nói về thị trường Trung Quốc, vào tháng 3/2017, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đã cân nhắc cắt giảm 10% sản lượng than, thép và xi măng để kiểm soát ô nhiễm không khí. Xa hơn nữa, Trung Quốc cũng đề ra kế hoạch cấm mở rộng công suất các ngành công nghiệp nặng, bao gồm cả xi măng vào năm 2018. Vì vậy, các DN Việt Nam kỳ vọng sẽ tận dụng lợi thế này để thâm nhập sâu vào thị trường Trung Quốc.

Thế nhưng, các nhà hoạch định chiến lược, sau khi xem xét ở nhiều góc độ của nền kinh tế thế giới, đã đưa ra nhiều luận điểm cho rằng DN xi măng Việt Nam trông đợi thị trường Trung Quốc ở thời điểm hiện tại hoặc tương lai cần phải cân nhắc thêm. Nói như vậy là bởi, diễn biến giá hàng hóa trên toàn thế giới đang chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các nhân tố địa chính trị và thay đổi bức tranh kinh tế vĩ mô. Thời gian trước đây, tỷ lệ tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc so với thế giới luôn tăng hơn gấp đôi. Tuy nhiên, kinh tế Trung Quốc đang trong giai đoạn giảm tốc và nhu cầu hàng hóa cơ bản dường như đã đạt đỉnh, tổng cầu hàng hóa nhập khẩu chung của Trung Quốc được dự báo sẽ giảm tốc.

Ngoài ra, nếu chiếu theo số liệu ghi chép thì Trung Quốc là thị trường có tỷ lệ nhập khẩu xi măng lớn nhất từ Việt Nam. Thế nhưng, giá mua vào của Trung Quốc lại thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực.

Nhìn chung, chuyện xuất khẩu xi măng của DN Việt sang Trung Quốc trước mắt vẫn là một giải pháp tốt giúp DN trong nước giải quyết tình trạng dư cung như hiện nay. Tuy nhiên, về lâu dài cũng cần có sự điều chỉnh.

Hiện nhu cầu đối với năng lượng hóa thạch đã bắt đầu giảm tại các nền kinh tế phát triển nơi mà người dân hướng tới sử dụng nguyên liệu chất đốt sạch hơn. Ngay bản thân Trung Quốc cũng nhận thức rõ những thách thức môi trường do việc sử dụng quá nhiều than trong sản xuất. Thỏa thuận Paris 2015 về chống biến đổi khí hậu, khuyến khích sử dụng nguồn năng lượng tái tạo/sạch, là bằng chứng rõ nét cho xu hướng này. Ngược lại, các DN Việt Nam lại đang gia tăng sản lượng xi măng để xuất khẩu khiến cho rất nhiều người chứng kiến không biết nên mừng hay lo…

Vũ Lâm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.240 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.060 23.240 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.001 23.231 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.060 23.235 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.040 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.050 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.033 23.245 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.027 23.227 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.060 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.090 23.260 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
53.700
54.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
53.700
54.250
Vàng SJC 5c
53.700
54.270
Vàng nhẫn 9999
52.550
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
53.050