Xử lý nợ xấu gặp khó do rào cản cơ chế

07:20 | 26/11/2021

Theo phản ánh của lãnh đạo các nhà băng, việc thu hồi nợ qua các biện pháp thu nợ dưới hình thức phát mại xử lý tài sản 9 tháng đạt thấp hơn thời gian trước do ảnh hưởng của dịch bệnh và vướng mắc cơ chế tại Nghị quyết 42.

xu ly no xau gap kho do rao can co che Cần sớm luật hoá xử lý nợ xấu
xu ly no xau gap kho do rao can co che Hoàn thiện hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm nhằm thúc đẩy xử lý nợ xấu của các TCTD
xu ly no xau gap kho do rao can co che Kiểm soát và xử lý nợ xấu là thách thức lớn

Áp lực gia tăng do Covid-19

Phát biểu tại Hội thảo “Xử lý nợ xấu trong đại dịch Covid-19 và hoàn thiện chính sách pháp luật về xử lý nợ xấu theo hướng Luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14” do Ủy ban Chính sách (thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam - VNBA) tổ chức hôm 24/11, TS. Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký VNBA cho biết, kết quả đạt được trong xử lý nợ xấu thời gian qua là rất tích cực. Cụ thể tính đến cuối tháng 8/2021, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được khoảng 1.300 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 của toàn hệ thống các TCTD đến 31/8/2021 là 424,1 nghìn tỷ, đã xử lý được 364,1 nghìn tỷ đồng kể từ 15/8/2017 - 31/8/2021.

Tuy nhiên hiện vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc về chính sách ảnh hưởng đến tiến độ xử lý nợ xấu của các TCTD. Đặc biệt, đại dịch Covid-19 tiếp tục bùng phát khiến nguy cơ nợ xấu tăng cao trở lại. “Việc xử lý nợ xấu theo Đề án tái cơ cấu 1058 đã gần thành công và đưa tỷ lệ nợ xấu về mức cho phép thì lại xảy ra dịch Covid-19 khiến thành quả mà hệ thống phấn đấu thời gian qua nguy cơ bị xoá. Đây là một áp lực rất lớn đối với ngành Ngân hàng, đang phải thực sự gồng mình để khắc phục, vừa hỗ trợ doanh nghiệp, đảm bảo vốn đầu tư cho nền kinh tế, và vừa đảm bảo chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu”, ông Hùng nhìn nhận.

xu ly no xau gap kho do rao can co che
Nợ xấu làm giảm khả năng hỗ trợ nền kinh tế của các ngân hàng

Ông Lê Trung Kiên - Phó cục trưởng Cục Giám sát an toàn hệ thống các TCTD (Cục IV) thuộc Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng (NHNN) cũng bày tỏ lo ngại, dịch bệnh Covid-19 đang tác động rất lớn đến nền kinh tế. Trong 9 tháng đầu năm nay, trung bình mỗi tháng có 10 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường, ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng ngân hàng. Thời gian qua, mặc dù ngành Ngân hàng triển khai nhiều giải pháp miễn giảm lãi suất, cơ cấu lại nợ theo chủ trương của Chính phủ và NHNN song nợ xấu vẫn có nguy cơ tăng lên rất cao. Nếu như tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm 2019 chỉ còn 1,63% thì đến cuối tháng 9/2021 đã tăng lên 1,9%, trở lại mức tương đương năm 2017 trước khi có Nghị quyết 42. “Từ đó có thể thấy tác động ghê gớm của đại dịch tới các TCTD như thế nào”, ông Kiên nhìn nhận.

Với tình hình hiện nay, NHNN đang nghiên cứu, xem xét việc lùi tỷ lệ áp dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn để các TCTD có thêm nguồn lực hỗ trợ khách hàng.

Cơ chế cản bước xử lý nợ xấu

Báo cáo tài chính của các ngân hàng cũng ghi nhận nợ xấu có sự gia tăng mạnh trong 9 tháng đầu năm. Trong khi theo phản ánh của lãnh đạo các nhà băng, việc thu hồi nợ qua các biện pháp thu nợ dưới hình thức phát mại xử lý tài sản 9 tháng đạt thấp hơn thời gian trước do ảnh hưởng của dịch bệnh và vướng mắc cơ chế tại Nghị quyết 42.

Chẳng hạn Điều 8 Nghị quyết 42 quy định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án. Tuy nhiên bà Nguyễn Thị Phương - Giám đốc Ban Pháp chế BIDV kiêm Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ Pháp chế VNBA cho biết, trong 4 năm qua, chưa có vụ việc nào của BIDV được Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo trình tự rút gọn. Thực tế này diễn ra tại hầu hết các ngân hàng. Đến nay, ghi nhận duy nhất SCB thực hiện được một vụ theo thủ tục rút gọn tại toà án. Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng trên là tại Điều 8 Nghị quyết 42 chưa quy định cơ chế bắt buộc/đương nhiên áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản đảm bảo tại Toà án khi đủ điều kiện, dẫn tới các Toà án vẫn lựa chọn việc giải quyết tranh chấp thông qua thủ tục tố tụng thông thường mặc dù vụ việc tranh chấp đó đáp ứng điều kiện giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại Nghị quyết 42.

Một lý do nữa cản trở ngân hàng vận dụng chính sách trên đó là thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42 chỉ áp dụng đối với tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBĐ, tranh chấp về quyền xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu của TCTD mà chưa quy định rõ việc áp dụng thủ tục rút gọn đối với các tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa các TCTD với khách hàng vay. Trong khi gốc của mọi tranh chấp giữa ngân hàng với khách hàng bao giờ cũng từ hợp đồng tín dụng. Sự bất cập này dẫn tới chưa tạo được cơ sở pháp lý cho Toà án áp dụng thủ tục rút gọn rộng rãi khi TCTD khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bên cạnh đó, Tòa án cũng có tâm lý e ngại, sợ áp dụng quy trình rút gọn sẽ bị khởi kiện, bản án bị tuyên vô hiệu, khiến Điều 8 của Nghị quyết 42 chưa đi vào thực tiễn.

Đại diện Vietcombank cũng cho biết, các TCTD gặp khó khăn trong việc nhận gán nợ TSBĐ là bất động sản, xử lý TSBĐ là bất động sản, xử lý tài sản bảo đảm là chứng khoán, là phương tiện vận tải, là dự án bất động sản… Nguyên do văn bản quy định pháp luật chưa hoàn thiện, nhiều văn bản chưa rõ ràng, chưa hỗ trợ công tác xử lý, thu hồi nợ. Trong khi đó, thị trường hoạt động mua, bán nợ vận hành chưa hiệu quả. Khách hàng, chủ tài sản chây ỳ, bất hợp tác, không có ý thức phối hợp trả nợ xử lý tài sản bảo đảm, đồng thời, việc xử lý nợ thông qua cơ quan pháp luật tại một số địa phương còn chậm…

Nợ xấu tăng nhanh trong khi hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu đang thiếu hụt khi Nghị quyết 42 cũng chỉ còn gần 1 năm nữa là hết hiệu lực. “Điều này, sẽ khiến áp lực xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD trong thời gian tới là rất lớn. Khi đó, nhiều nguy cơ “con nợ to hơn chủ nợ” sẽ xảy ra, việc chây ỳ trả nợ lại tái diễn. Vì vậy, các NHTM đề nghị, Quốc hội và Chính phủ cần sớm luật hóa Nghị quyết 42, đảm bảo hài hòa quyền lợi của bên đi vay và cho vay. Việc xử lý nợ xấu tốt không chỉ giúp ngân hàng phát triển an toàn lành mạnh mà còn giúp mặt bằng lãi suất cho vay giảm, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi”, TS. Hùng nhấn mạnh và lưu ý thêm việc luật hóa xử lý nợ xấu cũng là tăng hiệu lực, hiệu quả của công tác thể chế, một trong ba đột phá chiến lược tiếp tục được Đại hội Đảng XIII lựa chọn, thông qua. Trong dài hạn, việc luật hóa là rất cần thiết, khi đó các quy định xử lý nợ xấu sẽ có giá trị pháp lý cao hơn, giúp cho ngành Ngân hàng và các cơ quan Nhà nước liên quan phối hợp xử lý nợ xấu hiệu quả hơn.

Bà Vũ Ngọc Lan – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế (NHNN):

Không nên để khoảng trống pháp lý về xử lý nợ xấu

Nghị quyết 42 là thí điểm nên hiệu lực chỉ kéo dài đến ngày 15/8/2022 sẽ hết hiệu lực thi hành. Khi đó, toàn bộ cơ chế về xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 đang được thực hiện sẽ chấm dứt. Việc xử lý nợ xấu của TCTD sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan, không được ưu tiên áp dụng một số chính sách được quy định tại Nghị quyết 42. Điều này sẽ tác động lớn đến quá trình xử lý nợ xấu cũng như quá trình tái cơ cấu TCTD.

Do đó, để tiếp tục nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu, trên cơ sở ý kiến đề xuất của các TCTD, VAMC, NHNN đã đề xuất Chính phủ, đề xuất Quốc hội về việc hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý nợ xấu nhằm tiếp tục duy trì, phát triển các chính sách tại Nghị quyết 42 với hai phương án.

Cụ thể, phương án một là đề xuất Chính phủ, Quốc hội xây dựng Luật về xử lý nợ xấu của các TCTD theo hướng kế thừa các quy định về xử lý nợ xấu tại Nghị quyết 42 còn phù hợp và sửa đổi, bổ sung một số quy định thực tiễn triển khai trong thời gian qua gặp khó khăn, vướng mắc như quy định về việc thu giữ TSBĐ; có quy định loại trừ không áp dụng quy định về trường hợp xuất hiện tình tiết mới trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn; bổ sung quy định về việc hoàn trả TSBĐ là tang vật của các vụ việc hành chính... Để tránh khoảng trống pháp lý khi Nghị quyết 42 hết hiệu lực thi hành, Luật xử lý nợ xấu cần được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn tại kỳ họp Quốc hội vào tháng 5/2022.

Phương án thứ hai, trong trường hợp Quốc hội không đồng ý việc xây dựng Luật theo trình tự, thủ tục rút gọn, để tránh khoảng trống pháp lý, đồng thời tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả của các cơ chế về xử lý nợ xấu tại Nghị quyết 42, NHNN đề xuất Chính phủ báo cáo Quốc hội cho phép kéo dài hiệu lực của Nghị quyết 42 với thời hạn ba năm. Trong thời gian đó, chúng ta tiếp tục nghiên cứu, đề xuất xây dựng Luật về xử lý nợ xấu của TCTD để đảm bảo tính ổn định của quy định pháp luật.

Hiện NHNN đang chờ ý kiến chỉ đạo chính thức của Chính phủ, Quốc hội về các nội dung đề xuất. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Quốc hội, NHNN sẽ nhanh chóng phối hợp với các bộ, ngành để hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý nợ xấu theo ý kiến chỉ đạo.

Bà Nguyễn Minh Hằng - Trưởng Bộ môn Luật Ngân hàng - Tài chính, Đại học Luật Hà Nội:

Luật phải nhất thể hóa được tất cả các văn bản pháp luật liên quan

Để Luật hóa được Nghị quyết 42 thì cần phải hội tụ một số điều kiện. Đó là Luật xử lý nợ xấu phải nhất thể hóa được tất cả các văn bản pháp luật về xử lý nợ xấu hiện nay để tạo ra một chính sách đồng bộ và thống nhất về các quy định giải quyết tình trạng chồng chéo trong các văn bản pháp luật. Nếu làm được điều này, việc triển khai mới thực sự hiệu quả. Ngoài ra, trong luật xử lý nợ xấu cần xác định các chủ thể tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu, trong đó cần quan tâm đến hai vấn đề: mua bán nợ xấu và chứng khoán hóa các khoản nợ xấu.

Khi luật hóa Nghị quyết 42 cũng cần quy định rõ những hệ nguyên tắc cụ thể và xác định rõ các nhóm đối tượng, điều chỉnh luật để đảm bảo tính ổn định và lâu dài của luật. Đối với hoạt động mua bán nợ xấu, khi đưa vào luật hóa cần bổ sung các quy định như quy định chi tiết về các giấy tờ bên bán nợ xấu phải cung cấp cho bên mua nợ xấu; sửa đổi quy định về điều kiện các khoản nợ được mua bán; hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo cho các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng, các AMC.

Bên cạnh đó, để hoàn thiện thị trường mua bán nợ lành mạnh, NHNN, Bộ Tài chính cần phải xây dựng Bộ Tiêu chí, công thức định giá nợ xấu để các NHTM đánh giá được các khoản nợ xấu, xác định được giá của khoản nợ xấu được mua bán. Đồng thời, hai cơ quan này cũng xây dựng quy định việc xác định để thành lập hoạt động của các tổ chức định giá về nợ xấu. Ngoài ra, để khuyến khích các NHTM tham gia mua bán nợ xấu, cần có những ưu đãi về thuế như miễn giảm, thuế thu nhập doanh nghiệp.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Phó Vụ trưởng Vụ I - Tổng cục Thi hành án dân sự (Bộ Tư pháp):

Rà soát kỹ nội dung cần sửa đổi

Do dịch Covid-19 bùng phát nên hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự bị gián đoạn, công tác tác nghiệp tại cơ sở, xác minh điều kiện thi hành án, làm việc trực tiếp với đương sự bị ảnh hưởng, dẫn tới công tác xử lý nợ cũng bị ảnh hưởng. Mặt khác công tác phối hợp với các ngân hàng chưa hiệu quả dẫn tới kết quả thu hồi hồi nợ cho ngân hàng chưa cao. Một phần nguyên nhân nữa cũng xuất phát từ khó khăn, vướng mắc từ thể chế, trong đó là một số điều khoản của Nghị quyết 42.

Để tháo gỡ vướng mắc trên việc Luật hóa các quy định của Nghị quyết 42 dưới hình thức ban hành Luật về xử lý nợ xấu của các TCTD là phù hợp. Tuy nhiên, để không còn gặp phải những khó khăn, vướng mắc khác, NHNN cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp (Tổng cục Thi hành án dân sự) trong việc rà soát kỹ các nội dung cần sửa đổi.

Hà Thành

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.605 22.835 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.635 22.835 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.615 22.835 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.610 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.630 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.630 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.633 22.848 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.600 22.830 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.630 22.810 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.650 22.810 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.950
60.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.950
60.650
Vàng SJC 5c
59.950
60.670
Vàng nhẫn 9999
51.300
52.000
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.700