Chỉ số kinh tế:
Ngày 18/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.637 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.401/26.863 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Xuất khẩu tôm hùm tăng tốc: Đã đến lúc gia tăng giá trị thay vì sản lượng

Đức Hiền
Đức Hiền  - 
Nhiều năm qua, tôm luôn là “trụ đỡ” trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Nửa đầu năm 2026, nhóm ngành hàng này tiếp tục ghi nhận tốc độ tăng trưởng hai con số, trong đó tôm hùm nổi lên như một phân khúc có sức bật đáng chú ý.
aa
Sự tăng trưởng mạnh của tôm hùm trong nửa đầu năm 2026 là tín hiệu tích cực.

Sự tăng trưởng mạnh của xuất khẩu tôm hùm trong nửa đầu năm 2026 là tín hiệu tích cực - Nguồn: VASEP

Theo số liệu VASEP, xuất khẩu tôm hùm trong những tháng đầu năm 2026 đạt khoảng trên 600 triệu USD, tăng 44,3% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô này tương đương 10,1% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản và gần 25% kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam.

Đáng chú ý hơn, trong cơ cấu ngành tôm, tôm thẻ chân trắng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với khoảng 3,17 tỷ USD, tiếp đến là tôm sú khoảng 663 triệu USD. Trong khi đó, tôm hùm đạt khoảng 817 triệu USD, tăng hơn gấp đôi so với năm 2024 và lần đầu chiếm 17,6% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm.

Những con số này cho thấy một sự dịch chuyển đáng chú ý đó là giá trị đang trở thành động lực mới của ngành tôm.

Theo ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), tôm tiếp tục là nhóm sản phẩm xuất khẩu lớn nhất của thủy sản Việt Nam, đóng góp khoảng 40,7% tổng kim ngạch toàn ngành. Đây là lợi thế rất lớn, bởi Việt Nam đã hình thành được hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh từ nuôi trồng, chế biến đến xuất khẩu. Nhưng lợi thế ấy cũng đặt ngành tôm trước một yêu cầu mới. Khi chi phí đầu vào, logistics, tiêu chuẩn môi trường và yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng cao, tăng trưởng không thể mãi dựa vào mở rộng sản lượng.

Theo các chuyên gia thủy sản, dư địa của tôm hùm còn lớn nhờ nhu cầu đối với các sản phẩm thủy sản cao cấp tại những thị trường có sức mua tốt. Tuy nhiên, cơ hội thị trường chỉ có thể chuyển thành kim ngạch bền vững nếu ngành hàng kiểm soát được chất lượng từ vùng nuôi đến bàn ăn.

Đây cũng chính là điểm cần đặc biệt lưu ý. Với sản phẩm có giá trị cao, một lô hàng không đáp ứng tiêu chuẩn có thể gây thiệt hại lớn hơn nhiều so với các mặt hàng thông thường. Vì vậy, mở rộng quy mô nuôi phải đi cùng kiểm soát con giống, môi trường nước, thức ăn, dư lượng, dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc.

Tôm hùm muốn đi xa không thể chỉ dựa vào lợi thế tự nhiên hay giá bán cao mà phải dựa vào một chuỗi giá trị đủ chuẩn.

Mục tiêu đưa tôm hùm trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ USD vì thế không phải câu chuyện đơn thuần về mở rộng diện tích nuôi. Bài toán lớn hơn là tổ chức lại chuỗi giá trị.

TS. Hồ Quốc Lực, chuyên gia ngành thủy sản chia sẻ, trước hết cần xây dựng vùng nuôi tập trung, quản lý tốt mật độ nuôi và môi trường nhằm hạn chế rủi ro dịch bệnh. Cùng với đó là chuẩn hóa con giống, nâng chất lượng thức ăn và tăng khả năng truy xuất.

Một điểm nghẽn khác là khâu chế biến. Nếu phần lớn tôm hùm vẫn được xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu hoặc sản phẩm sơ chế, giá trị gia tăng mà Việt Nam giữ lại sẽ chưa tương xứng với tiềm năng.

Đây là lúc doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy “có hàng để xuất” sang “có sản phẩm để bán”. Tôm hùm có thể được phát triển thành các dòng sản phẩm chế biến sâu, đóng gói tiện lợi, đáp ứng tiêu chuẩn từng thị trường và gắn với thương hiệu Việt Nam.

Theo các chuyên gia, nâng tỷ trọng chế biến sâu sẽ giúp ngành tôm giảm phụ thuộc vào biến động giá nguyên liệu, đồng thời tạo dư địa gia tăng giá trị trên mỗi đơn hàng. Khi đó, tăng trưởng xuất khẩu không nhất thiết phải đi cùng áp lực tăng sản lượng nuôi.

Vấn đề cuối cùng là thị trường. Tôm hùm có giá trị cao nên càng cần đa dạng hóa thị trường, tránh phụ thuộc quá lớn vào một vài đối tác. Doanh nghiệp cũng cần chủ động cập nhật quy định nhập khẩu, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và các yêu cầu về phát triển bền vững.

Sự tăng trưởng mạnh của tôm hùm trong nửa đầu năm 2026 là tín hiệu tích cực. Nhưng để biến một sản phẩm tăng trưởng nhanh thành ngành hàng tỷ USD, Việt Nam cần nhiều hơn những con số xuất khẩu ấn tượng.

Đó phải là quá trình nâng cấp cả chuỗi từ con giống, vùng nuôi, công nghệ, chế biến, logistics đến thương hiệu và thị trường. Nếu làm được điều này, tôm hùm không chỉ là “ngôi sao mới” của ngành tôm mà còn có thể trở thành một trong những sản phẩm thủy sản có giá trị cao, góp phần đưa xuất khẩu thủy sản Việt Nam bước sang một giai đoạn tăng trưởng dựa nhiều hơn vào chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh, thay vì chạy theo sản lượng.

Đức Hiền

Tin liên quan

Tin khác

Chuyển đổi xanh: Phải biến sức ép thành lợi thế

Chuyển đổi xanh: Phải biến sức ép thành lợi thế

Chuyển đổi xanh đang trở thành điều kiện cạnh tranh khi tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe. Doanh nghiệp muốn giữ chỗ trong chuỗi cung ứng phải hành động sớm.
Bao bì thành ‘tấm vé’ vào chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp in Việt phải chuyển mình

Bao bì thành ‘tấm vé’ vào chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp in Việt phải chuyển mình

Khi hàng Việt ngày càng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, bao bì không còn đơn thuần làm nhiệm vụ “đóng gói sản phẩm” mà trở thành một phần của tiêu chuẩn cạnh tranh. Từ vật liệu, công nghệ in, khả năng tái chế đến truy xuất nguồn gốc, những yêu cầu ngày càng cao buộc doanh nghiệp ngành in Việt Nam phải nâng cấp công nghệ, quản trị và “xanh hóa” sản xuất nếu muốn giữ đơn hàng.
Doanh nghiệp nhỏ xuất khẩu: Nhà xưởng, vốn và tiếng Anh có thực sự là “vé vào cửa”?

Doanh nghiệp nhỏ xuất khẩu: Nhà xưởng, vốn và tiếng Anh có thực sự là “vé vào cửa”?

Không nhà xưởng, vốn lớn hay tiếng Anh thành thạo, doanh nghiệp nhỏ vẫn có thể tìm khách hàng quốc tế nếu biết tận dụng công nghệ và thương mại.
Xuất khẩu gạo giảm cả lượng và giá, cần đổi cách cạnh tranh?

Xuất khẩu gạo giảm cả lượng và giá, cần đổi cách cạnh tranh?

Xuất khẩu gạo 8 tháng năm 2026 đạt hơn 6 triệu tấn, trị giá gần 2,91 tỷ USD, giảm cả về lượng lẫn giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Khi dư địa tăng sản lượng không còn nhiều và cạnh tranh trên thị trường thế giới ngày càng gay gắt, ngành gạo Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ “bán được nhiều” sang nâng giá trị mỗi tấn gạo bằng chất lượng, thương hiệu và đa dạng hóa thị trường.
Tàu buồm chở hàng được Việt Nam đóng mới  và bàn giao cho Pháp

Tàu buồm chở hàng được Việt Nam đóng mới và bàn giao cho Pháp

Tổng công ty Sông Thu vừa tổ chức bàn giao tàu buồm chở hàng C457 cho đối tác Piriou (Pháp). C457 là một trong những tàu buồm chở hàng thuộc dự án của Piriou, được đóng mới có yêu cầu kỹ thuật cao, hướng đến xu thế vận tải biển xanh và phát triển bền vững. Tàu được thiết kế để vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với năng lượng gió là nguồn năng lượng chính.
Ngành gỗ hướng tới mục tiêu xuất khẩu thương hiệu Việt

Ngành gỗ hướng tới mục tiêu xuất khẩu thương hiệu Việt

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, lũy kế 8 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 11,69 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2025. Con số này cho thấy ngành gỗ vẫn duy trì được sức chống chịu trước những biến động của kinh tế thế giới. Tuy nhiên, bài toán hiện nay không còn đơn giản là tăng thêm sản lượng hay tìm kiếm thêm đơn hàng. Điều quan trọng hơn là mỗi sản phẩm xuất khẩu phải tạo ra nhiều giá trị hơn.
‘Lực đẩy kép’ từ bứt tốc dự án và khơi thông logistics

‘Lực đẩy kép’ từ bứt tốc dự án và khơi thông logistics

Để duy trì đà tăng trưởng, Thanh Hóa đang đẩy nhanh các dự án công nghiệp trọng điểm và quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn logistics. Động thái chuyển mình này giúp tối ưu hóa chuỗi cung ứng, nâng tầm cạnh tranh.
Từ kỷ lục xuất khẩu đến bài toán giữ lại giá trị

Từ kỷ lục xuất khẩu đến bài toán giữ lại giá trị

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tháng 8/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là tháng thứ hai liên tiếp thương mại hàng hóa quốc tế của Việt Nam đạt quy mô gần 110 tỷ USD, cho thấy sức bật đáng chú ý của hoạt động xuất nhập khẩu trong bối cảnh thương mại toàn cầu còn nhiều biến động.
Kiến nghị bổ sung cơ chế chia sẻ rủi ro với các tổ chức tín dụng

Kiến nghị bổ sung cơ chế chia sẻ rủi ro với các tổ chức tín dụng

Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện hành chủ yếu quy định các nguyên tắc hỗ trợ, chưa hình thành cơ chế chia sẻ rủi ro thực chất giữa Nhà nước và tổ chức tín dụng. Do đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn phải đáp ứng đầy đủ điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật về tín dụng, trong khi năng lực tài chính và tài sản bảo đảm của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế.
Kinh tế tư nhân Trung Bộ và Tây Nguyên: Từ đổi mới sáng tạo đến giá trị thực

Kinh tế tư nhân Trung Bộ và Tây Nguyên: Từ đổi mới sáng tạo đến giá trị thực

Một hội thảo khoa học về phát triển kinh tế tư nhân không chỉ được nhìn từ những tham luận, con số hay khuyến nghị chính sách. Ở một góc khác, câu chuyện của một doanh nghiệp đưa sản phẩm ứng dụng công nghệ vào phục vụ hội thảo cũng gợi mở một lát cắt về hành trình đổi mới sáng tạo của khu vực kinh tế tư nhân.