13:52 | 14/11/2017

Bảng Anh ổn định trước cuộc tranh luận Brexit, lợi suất trái phiếu Mỹ hỗ trợ USD

Đồng bảng Anh nhích nhẹ lên 1,3115 USD trong phiên giao dịch châu Á sáng nay sau khi sụt giảm trong phiên giao dịch trước đó do lo ngại bất ổn chính trị khi các nhà lập pháp bàn luận về kế hoạch rời khỏi EU của Chính phủ Anh vào tuần này.

Con đường gập ghềnh của Dự luật cải cách thuế Mỹ
Tăng trưởng việc làm phục hồi càng khiến Fed tự tin tăng lãi suất
Fed giữ nguyên lãi suất, song phát tín hiệu mạnh sẽ tăng vào tháng 12
Ảnh minh họa

Theo tờ The Sunday Times, dự luật Brexit sẽ được đưa ra thảo luận vào thứ Ba và thứ Tư tuần này trong bối cảnh khoảng 40 nhà lập pháp thuộc đảng Bảo thủ của Thủ tướng Theresa May đang ủng hộ một kế hoạch chống lại bà.

Một trong những sự kiện cũng thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư đó là việc Chủ tịch ECB Mario Draghi, Chủ tịch Fed Janet Yellen, Thống đốc NHTW Nhật Haruhiko Kuroda và Thống đốc NHTW Anh Mark Carney sẽ tiến hành họp báo tại một Hội thảo do ECB tổ chức tại Frankfurt vào thứ Ba.

“Các đồng tiền chính đã củng cố trong các phạm vi ngày hôm nay, nhưng một điều gì đó có thể nổi lên tại hội nghị ECB vào cuối ngày hôm nay”, Keiko Ninomiya - chuyên gia phân tích thị trường tiền tệ tại Ngân hàng SMBC Trust ở Tokyo cho biết.

Chỉ số USD, thước đo sức mạnh đồng bạc xanh so với một giỏ của 6 đồng tiền chủ chốt khác, ổn định trong ngày ở mức 94,486 điểm.

So với đồng yên Nhật, đồng USD tăng nhẹ lên mức 113,64 JPY/USD, nhưng vẫn thấp hơn mức cao nhất trong 8 tháng là 114,735 JPY/USD thiết lập vào tuần trước.

“Đôla đang nhận được sự hỗ trợ từ lợi suất trái phiếu Mỹ, nhưng tôi thực sự ngạc nhiên khi nó không tăng cao, vì vậy có lẽ mối tương quan giữa lợi suất trái phiếu và đồng USD đang bị phá vỡ”, Masashi Murata - Chiến lược gia tiền tệ của Brown Brothers Harriman ở Tokyo nói.

“Nhưng với việc Fed được kỳ vọng ​​sẽ tăng lãi suất trong tháng 12, đồng USD có thể sẽ tăng cao hơn” trong những tuần tới, ông nói.

Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ ổn định ở mức đỉnh 9 năm vào ngày thứ Hai, khi đường cong lợi tức quay trở lại với trạng thái “dẹt” của nó và các nhà đầu tư đang đặt cược Fed sẽ tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản vào tháng tới.

Cụ thể, lợi suất trái phiếu Kho bạc 10 năm tăng lên 2,407% so với mức đóng cửa phiên giao dịch Mỹ hôm thứ Hai là 2,400%. Nó đã giảm xuống còn 2,304% trong phiên ngày 8/11.

Đồng euro tăng 0,05% lên 1,1673 USD, vượt qua mức thấp nhất trong 3,5 tháng ở mức 1,1553 USD.

Đôla New Zealand là đồng tiền có mức biến động lớn nhất trong phiên giao dịch châu Á, khi giảm 0,6% xuống còn 0,6863 USD và đang hướng tới phiên giảm thứ 4 liên tiếp. Nó đang tiến sát tới mức đáy của ngày 27/10 là 0,6818 USD, mức thấp kể từ tháng 5.

Đồng đôla New Zealand đã tăng lên mức cao 0,980 USD vào tuần trước, khi Ngân hàng Dự trữ New Zealand nâng dự báo lạm phát để đáp ứng lại với sự giảm giá của đồng nội tệ và kế hoạch chi tiêu của chính phủ.

Dự đoán trung bình gần đây nhất của 48 nhà phân tích cho biết đôla New Zealand sẽ đứng ở mức 0,7000 USD trong vòng 1 tháng tới, giảm so với mức 0,7200 USD trong cuộc thăm dò ý kiến ​​trước đó.

Trong khi đôla Úc tăng 0,13% lên 0,7633 USD, bất chấp những dữ liệu kém khả quan của kinh tế Trung Quốc sau khi cuộc điều tra mới nhất về doanh nghiệp từ NAB đã cho thấy những điều kiện tốt nhất trong hai thập niên qua, với doanh thu và lợi nhuận tăng mạnh vào tháng 10.

Úc rất nhạy cảm đối với dữ liệu của Trung Quốc vì Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Úc. Theo số liệu mới công bố, doanh số bán lẻ của Trung Quốc chỉ tăng 10% trong tháng 10, trong khi sản lượng công nghiệp tăng 6,2%, cả hai đều thấp hơn kỳ vọng khi chính phủ Trung Quốc đang đẩy mạnh các biện pháp giảm rủi ro nợ và ô nhiễm của các nhà máy.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.240 23.330 26.251 26.723 29.066 29.532 199,09 206,12
BIDV 23.240 23.330 26.237 26.603 29.105 29.565 202,71 206,19
VietinBank 23.228 23.328 26.199 26.704 29.015 29.575 202,68 206,43
Agribank 23.245 23.330 26.266 26.619 29.078 29.518 203,14 206,63
Eximbank 23.220 23.320 26.241 26.592 29.180 29.571 203,54 206,26
ACB 23.240 23.320 26.244 26.582 29.247 29.550 203,60 206,22
Sacombank 23.244 23.336 26.287 26.651 29.253 29.608 203,63 206,68
Techcombank 23.215 23.330 25.994 26.715 28.856 29.684 202,19 207,45
LienVietPostBank 23.230 23.330 26.187 26.645 29.234 29.645 202,91 206,59
DongA Bank 23.275 23.330 26.270 26.590 29.390 29.570 202,20 206,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.230
36.390
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.230
36.370
Vàng SJC 5c
36.230
36.390
Vàng nhẫn 9999
35.230
35.630
Vàng nữ trang 9999
34.888
35.580