07:30 | 17/06/2019

Dệt may có tận dụng được cơ hội?

Chưa bao giờ ngành dệt may đón nhận cùng lúc nhiều cơ hội thuận lợi như hiện nay...

Ngành dệt may dịch chuyển mạnh từ quan hệ thương mại Mỹ - Trung
Cơ hội lớn mở ra cho ngành dệt may

Hiện cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang thúc đẩy các nhà máy dịch chuyển khỏi Trung Quốc để tìm đến Việt Nam. Trong khi đó việc Liên minh châu Âu (EU) mới đây quyết định chấm dứt chính sách ưu đãi (EBA) với hàng hóa xuất khẩu của Campuchia cũng có thể tạo nên cú hích mới, giúp các DN trong nước nhận thêm nhiều các đơn hàng từ Campuchia chuyển qua.

Châu Âu là một trong số các thị trường xuất khẩu chủ lực của Campuchia. Theo các nhà phân tích, việc EU chấm dứt chính sách ưu đãi thị trường sẽ khiến hàng hóa nhập khẩu từ Campuchia không còn được ưu đãi về thuế quan, làm tổn hại nghiêm trọng đến ngành công nghiệp quan trọng này. “Việc rút EBA sẽ tác động tàn phá đối với ngành dệt may Campuchia. Điều này có thể khiến hàng trăm nghìn công nhân mất việc”, giáo sư Carl Thayer thuộc đại học New South Wales Canberra nhận định.

Để tránh nguy cơ bị đánh thuế cao, nhiều khả năng các nhà máy dệt may tại Campuchia sẽ phải dịch chuyển tới các quốc gia khác. Trong đó Việt Nam được xem là đích đến tiềm năng nhờ triển vọng của Hiệp định Thương mại tự do EU-Vietnam dự kiến sẽ chính thức được ký kết trong năm nay.

Trong các năm qua, ngành dệt may là một trong những lĩnh vực chứng kiến mức độ tăng trưởng khả quan. Giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam ghi nhận tăng trưởng 13,1% trong giai đoạn 2008-2017, vượt xa mức trung bình toàn cầu 4,9% chủ yếu nhờ nhân công giá rẻ và tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do. Riêng trong 5 tháng đầu năm 2019 giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tăng 1,26 tỷ USD (tương ứng tăng 11,5%) lên 12,19 tỷ USD.

Bên cạnh đó, ngành cũng hưởng lợi từ gia tăng căng thẳng thương mại Mỹ-Trung. Việc chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển từ Việt Nam có thể mang lại lượng đơn hàng dệt may lớn, giúp Việt Nam giành lấy thị phần từ Trung Quốc ngay tại thị trường Mỹ. Cơ hội rất nhiều như vậy vấn đề còn lại là ngành dệt may có tận dụng được thời cơ để bứt phá trong giai đoạn tới hay không?

Năng lực cạnh tranh và mức độ hoàn thiện chuỗi giá trị của các DN nội địa thời gian qua đã cải thiện đáng kể. Theo Công ty chứng khoán Vndirect, chuỗi giá trị dệt may của Việt Nam đang được hoàn thiện nhờ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chảy vào liên tục, tập trung vào sản xuất thượng nguồn (sợi và vải). Ngoài ra, các nhà DN may mặc chuyển hướng sang các phương thức sản xuất tiên tiến như mua nguyên liệu bán thành phẩm (FOB) và sản xuất thiết kế gốc (ODM) giúp cải thiện biên lợi nhuận.

“Trong dài hạn, chúng tôi kỳ vọng Việt Nam còn trở thành nhà cung cấp nguyên liệu dệt cho các nhà sản xuất may mặc trong khu vực nhờ chuỗi giá trị dệt may hoàn thiện”, chứng khoán Vndirect đánh giá.

Khá nhiều các DN dệt may niêm yết đang hoạt động khả quan. Điển hình như, Công ty Dệt may - Đầu tư - Thương mại Thành Công (TCM) ghi nhận doanh thu năm trước tăng 14% lên 3.662 tỷ đồng biên lợi nhuận cũng được cải thiện từ 16% lên mức 19%, đi kèm lợi nhuận ròng sau thuế tăng ấn tượng 35% lên 260 tỷ đồng. Theo kế hoạch kinh doanh 2019, TCM đặt mục tiêu doanh thu 3.952,70 tỷ đồng, tăng 8% so với thực hiện năm 2018. Dự kiến vào tháng 8/2019, TCM sẽ phát hành thêm gần 3,8 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ lên trên 580 tỷ đồng.

Một ngôi sao khác đáng chú ý trên sàn chứng khoán là Công ty May Sông Hồng (MSH). Công ty lý giải với việc dịch chuyển sản xuất sang mảng FOB giúp nhưng hoạt động tài chính được cải thiện nhờ thu nhập từ tiền gửi tăng và giảm lãi vay. Theo đó, doanh thu hoạt động tài chính tăng 86,74% lên 16,22 tỷ đồng trong khi chi phí tài chính giảm 23% xuống 7,23 tỷ đồng. Kết quả, dù quý I/2019, lợi nhuận trước thuế của MSH đạt 108,3 tỷ đồng, hoàn thành 22,8%. Lợi nhuận sau thuế tăng 77,81% đạt 86,64 tỷ đồng. Lãi cơ bản trên cổ phiếu đạt 1.819 đồng/cổ phiếu.

Hay ở DN có thế mạnh về ngành sợi là CTCP Sợi Thế Kỷ (STK), doanh thu quý I/2019 được ghi nhận tương đương với cùng kỳ năm 2018, nhưng biên lợi nhuận cải thiện lên mức 14% từ 13%. Đi cùng với việc cắt giảm chi phí vận hành, STK ghi nhận lợi nhuận sau thuế tăng trưởng 29% để đạt 52 tỷ đồng.

Hiện STK đang lên kế hoạch công suất lên gấp đôi trong năm 2020 thông qua dự án Polymerization với mục tiêu sản xuất hạt PET chip, giúp giảm phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, đồng thời mở rộng thêm thị phần và đáp ứng tốt hơn nhu cầu gia tăng từ làn sóng FDI đang rót mạnh vào Việt Nam.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.300 25.832 26.688 28.723 29.183 212,25 222,10
BIDV 23.180 23.300 25.838 26.582 28.706 29.191 212,63 218,02
VietinBank 23.162 23.292 25.841 26.636 28.674 29.314 212,77 219,27
Agribank 23.185 23.280 25.821 26.217 28.726 29.201 212,65 216,53
Eximbank 23.170 23.280 25.848 26.205 28.823 29.221 213,80 216,76
ACB 23.165 23.285 25.853 26.209 28.840 29.164 213,62 216,56
Sacombank 23.132 23.290 25.855 26.312 28.791 29.201 212,83 217,37
Techcombank 23.160 23.300 25.615 26.475 28.492 29.362 212,08 219,36
LienVietPostBank 23.170 23.290 25.792 26.269 28.862 29.291 213,35 217,29
DongA Bank 23.190 23.280 25.860 26.200 28.800 29.200 210,00 216,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.470
39.740
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.470
39.720
Vàng SJC 5c
39.470
39.740
Vàng nhẫn 9999
39.370
39.820
Vàng nữ trang 9999
39.020
39.820