08:58 | 10/10/2018

Điều hành uyển chuyển ổn định thị trường

Theo SSI, mức tăng trưởng tín dụng hiện tại có thể coi là phù hợp với định hướng hạn chế nới lỏng chính sách tiền tệ để kích thích kinh tế.

Điều hành chính sách tiền tệ: Điểm tựa vững chắc cho nền kinh tế
Tập trung mục tiêu lạm phát 4%
Chiến lược ngành Ngân hàng: Những tín hiệu tích cực

Tỷ giá ổn định

Trong tháng 9, mặc dù Fed được dự báo là sẽ tiếp tục tăng lãi suất, trong khi căng thẳng quan hệ thương mại Mỹ - Trung có xu hướng leo thang, nhưng có một điểm khá đặc biệt là thị trường tiền tệ thế giới dường như không phản ứng mạnh với những diễn biến trên. Giá trị đồng USD duy trì khá ổn định trong tháng 9. Chỉ số USD Index sau khi chạm đỉnh 96,7 điểm trong tháng 8 đã giảm trở lại và dao động quanh vùng 94 – 95 điểm trong tháng 9. USD Index chỉ bắt đầu tăng trở lại sau khi chạm đáy ở mức 93,9 điểm vào ngày 20/9 và tăng khá mạnh vượt ngưỡng 95,5 sau quyết định tăng lãi suất của Fed vào ngày 26/9. Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc cũng khá ổn định. Trong tháng 9, tỷ giá USD/CNY gần như đi ngang và chỉ tăng nhẹ 0,5%.

Ảnh minh họa

Bên cạnh sự ổn định trên thị trường thế giới, NHNN cũng đã điều hành hết sức linh hoạt đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, tỷ giá với mục tiêu ổn định thị trường ngoại hối.

Theo đó, giao dịch thị trường mở tháng 9 khá ổn định và nhịp nhàng thể hiện quan điểm rất thận trọng của NHNN. Tổng khối lượng tín phiếu mà NHNN phát hành đạt 52.950 tỷ đồng, chủ yếu để bù lại khối lượng đáo hạn là 50.000 tỷ đồng, trong đó có một phần là lượng tín phiếu kỳ hạn 91 ngày phát hành trong tháng 6. Tổng khối lượng OMO cho vay ra là 8.155 tỷ đồng, trong khi có 15.401 tỷ OMO đáo hạn. Như vậy NHNN đã hút ròng 10.196 tỷ đồng trong tháng 9. Thanh khoản dồi dào đã đưa lãi suất VND liên ngân hàng về khoảng 2,6%.

Biến động lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng khá nhạy với tỷ giá. Chênh lệch lãi suất VND - USD được kéo giãn đã giúp tỷ giá hạ nhiệt từ giữa tháng 7. Trong thời gian này, NHNN đã điều hành thị trường tiền tệ để duy trì lãi suất VND qua đêm ở mức 4%, trong khi lãi suất liên ngân hàng USD vẫn khá ổn định ở mức 2%. Chênh lệch 2% là mức khá an toàn để không gây áp lực lên tỷ giá.

Ngoài ra, theo báo cáo thị trường tiền tệ tháng 9 của Bộ phận Phân tích và Tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) vừa công bố, nhìn chung các cân đối vĩ mô vẫn cho những tín hiệu tích cực.

Đơn cử về hoạt động xuất nhập khẩu, xuất siêu tăng mạnh trong tháng 8 với giá trị 2,2 tỷ USD, ước tính tiếp tục duy trì ở mức 0,7 tỷ USD trong tháng 9, nâng thặng dư thương mại từ đầu năm lên trên 5 tỷ USD so với mức chỉ 324 triệu USD cùng kỳ năm 2017. Cán cân tổng thể tiếp tục thặng dư. Trong 6 tháng đầu năm, cán cân tổng thể đạt mức thặng dư 8,45 tỷ USD là mức cao nhất trong 4 năm trở lại đây. Trên thị trường chứng khoán, cả hai thị trường cổ phiếu và trái phiếu được khối ngoại mua ròng trở lại với tổng giá trị 1,1 nghìn tỷ đồng sau 3 tháng bán ròng liên tục. Dòng vốn ngoại đảo chiều tuy không lớn nhưng cũng phần nào tác động tích cực tới tâm lý thị trường.

Nhờ đó, tỷ giá USD/VND trong nước nhìn chung khá ổn định, chỉ dao động quanh ngưỡng 23.260/23.340 trong gần hết tháng 9.

Kiểm soát tín dụng chặt hơn

Trong khi CPI 9 tháng 2018 tăng 3,2% so với cuối năm 2017, mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Rủi ro lạm phát chi phí đẩy là đã rõ trong môi trường lãi suất và giá cả hàng hóa toàn cầu tăng. Giá dầu thô đã tăng 60% chỉ trong 1 năm và đồng USD trên thị trường thế giới diễn biến khó lường là những nhân tố bên ngoài rất khó kiểm soát nên chính sách ổn định tỷ giá và kiềm chế lạm phát trong nước cần phải được đặt lên ưu tiên hàng đầu. Tăng trưởng tín dụng vì vậy cần được kiểm soát chặt nhằm giảm bớt lượng sức ép thanh khoản, thu hẹp chênh lệch tín dụng/GDP và giữ lạm phát ở mức hợp lý.

Các chuyên gia của SSI đánh giá cao việc NHNN trong thời gian vừa qua đã đưa ra những thông điệp hướng tới việc kiểm soát tín dụng chặt chẽ hơn, như ban hành Chỉ thị 04 trong đó khẳng định không điều chỉnh tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Định hướng này phù hợp với khuyến nghị của IMF, cho rằng cần phải hạ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng xuống dưới 17% và hướng tới giảm xuống dưới 14% nhằm củng cố sự ổn định vĩ mô.

Đặc biệt, trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh trong những năm gần đây đã đẩy dư nợ tín dụng lên mức 7 triệu tỷ đồng, tương đương 130% GDP so với mức 100% GDP vào cuối năm 2014. Chênh lệch tín dụng/GDP (Credit-to-GDP gap) đã liên tục tăng từ mức âm trong năm 2014 lên 30% trong năm 2018. Đây là mức cao so với mặt bằng chung của các nước trên thế giới và trong khu vực. Tỷ lệ tín dụng/GDP cao là một chỉ báo rủi ro cần phải kiểm soát để không gây lạm phát như đã từng xảy ra trong năm 2008 và 2010.

Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm chỉ đạt 9,52%, khá thấp so với mức tăng 12,16% cùng kỳ năm 2017 và thấp nhất trong 4 năm trở lại đây. Mặc dù vậy, theo SSI, mức tăng trưởng tín dụng hiện tại có thể coi là phù hợp với định hướng hạn chế nới lỏng chính sách tiền tệ để kích thích kinh tế.

Một điểm tích cực khác là cơ cấu vốn vay đang có sự dịch chuyển. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn giảm về 27,67% trong tháng 5/2018 so với mức 33,35% cùng kỳ năm ngoái. Đây là kết quả của việc NHNN hạ tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 45% xuống 40% từ đầu năm 2019, buộc các NHTM phải đẩy mạnh thu hút dòng vốn dài hạn nhằm tái cơ cấu nguồn vốn. Tháng 9 chứng kiến lãi suất huy động tăng ở kỳ hạn dài trên 12 tháng, trong khi các kỳ hạn ngắn vẫn khá ổn định. Tăng trưởng huy động đạt 9,15% trong 9 tháng đầu năm, thấp hơn so với mức 10,66% trong năm 2017.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.295 23.385 26.828 27.688 30.409 30.896 204,93 213,12
BIDV 23.300 23.380 26.817 27.138 30.514 30.986 205,84 209,29
VietinBank 23.297 23.387 26.750 27.128 30.381 30.941 205,35 208,75
Agribank 23.280 23.380 26.802 27.160 30.531 30.939 206,10 208,85
Eximbank 23.300 23.380 26.785 27.129 29.600 30.916 206,11 208,76
ACB 23.300 23.392 26.875 27.235 30.633 30.988 206,24 209,30
Sacombank 23.295 23.387 26.884 27.245 30.545 30.900 206,87 209,90
Techcombank 23.280 23.380 26.563 27.276 30.210 31.043 20476 210,00
LienVietPostBank 23.280 23.380 26.772 27.239 30.500 30.922 206,55 210,27
DongA Bank 23.300 23.380 26.830 27.140 29.540 30.910 204,80 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.510
36.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.510
36.650
Vàng SJC 5c
36.510
36.670
Vàng nhẫn 9999
34.690
35.090
Vàng nữ trang 9999
34.240
35.040