14:27 | 28/06/2018

Đòn bẩy đầu tư vào nông nghiệp nông thôn

NH phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, các ngành liên quan tuyên truyền quảng bá để mọi người dân và các DN hoạt động trong lĩnh vực NNNT biết và hưởng ứng các chương trình, chính sách phát triển NNNT của Chính phủ và Agribank...

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 57/2018/NĐ-CP (Nghị định 57) về chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp nông thôn (NNNT) thay thế Nghị định số 210/2013/NĐ-CP với hàng loạt chính sách ưu đãi cho DN đầu tư vào NNNT với nhiều cơ chế chính sách mới.

Agribank với bề dày kinh nghiệm 30 năm gắn bó đồng hành cùng nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang tích cực hiện thực hóa chính sách mới, góp phần giúp cộng đồng DN có động lực hơn trong bỏ vốn đầu tư vào “Tam nông”.

Cần sớm xây dựng chính sách khuyến khích đối với các DN hoạt động trong lĩnh vực phát triển NNNT

Nhiều chính sách hỗ trợ mới

Nghị định 57/2018/NĐ-CP quy định một số cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư bổ sung của Nhà nước và quy định trình tự, thủ tục thực hiện ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cho các DN đầu tư vào NNNT. Điển hình, các quy định khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ mới như: DN có dự án nông nghiệp được miễn tiền chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất xây dựng nhà ở cho người lao động làm việc tại dự án; miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đó sau khi được chuyển đổi.

Đối với những dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư thì được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước kể từ ngày Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước trong 15 năm đầu. DN có dự án đầu tư vào NNNT được ngân sách địa phương hỗ trợ lãi suất vay thương mại sau khi dự án hoàn thành.

Mức hỗ trợ bằng chênh lệch lãi suất vay thương mại so với lãi suất tín dụng Nhà nước ưu đãi đầu tư, tính trên số dư nợ thực tế tại thời điểm xem xét hồ sơ hỗ trợ. Hạn mức vay vốn được hỗ trợ lãi suất tối đa 70% tổng mức đầu tư của dự án; thời gian hỗ trợ tối đa 8 năm.

Có thể thấy, so với Nghị định số 210/2013/NĐ-CP, Nghị định số 57/2018/NĐ-CP đã giảm tối đa các hỗ trợ trực tiếp bằng tiền, điều chỉnh các mức hỗ trợ đủ sức hấp dẫn đối với DN nhưng phù hợp khả năng cân đối ngân sách nhà nước và cơ chế thị trường, chỉ hỗ trợ một phần trong tổng mức đầu tư nhằm tạo trách nhiệm đầu tư hiệu quả của đồng vốn, ngăn ngừa trục lợi chính sách. Các hỗ trợ trực tiếp chỉ còn tập trung vào một số sản phẩm có tiềm năng, lợi thế cần khuyến khích phát triển.

Với những thay đổi trên có thể khắc phục hàng loạt bất cập trong chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực NNNT trong thời gian qua. Có thể nói, những cơ chế ưu đãi mới đã mở rộng đối tượng hỗ trợ và điều kiện hỗ trợ thấp hơn rất nhiều so với Nghị định số 210/2013/NĐ-CP.

Đây là tin vui đối với các DN hoạt động, đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, thu nhập cho người dân đang được thực hiện mạnh mẽ.

Những con số biết nói

Nông nghiệp là ngành có tiềm năng và lợi thế của Việt Nam, đây là ngành duy nhất đang xuất siêu và có ưu thế trong cạnh tranh với các quốc gia khác trên thế giới. Với sứ mệnh “Tam nông”, Agribank luôn giữ vững vị thế dẫn đầu trong cho vay lĩnh vực NNNT. Tính đến thời điểm 30/4/2018, dư nợ cho vay lĩnh vực NNNT của Agribank là 665.361 tỷ đồng, tăng 19.994 tỷ đồng so với 31/12/2017, chiếm 73,8%/tổng dư nợ cho vay. Trong đó, dư nợ cho vay đối với DN đầu tư vào NNNT là 140.087 tỷ đồng, số lượng khách hàng là 23.343 DN.

Có được những con số biết nói trên, Agribank đã triển khai đồng bộ các giải pháp. Nhiều gói lãi suất ở mức ưu đãi cho DN nhỏ và vừa, hộ sản xuất nông nghiệp, thậm chí, có mức lãi suất còn thấp hơn mức phí điều vốn nội bộ trong Agribank đã được triển khai trong suốt thời gian qua.

Không chỉ đưa ra mức lãi suất tốt, Agribank còn tích cực cải tiến quy trình, phương pháp cho vay, tiết giảm chi phí để có lãi suất thấp hỗ trợ và mở rộng đầu tư tín dụng cho “Tam nông” thông qua đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong việc cùng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc như về hạn mức vay vốn, kỳ hạn trả nợ, tài sản thế chấp…

Agribank cũng đưa ra nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích đối với khách hàng, nhất là khách hàng khu vực nông thôn, triển khai mô hình NH lưu động bằng xe ô tô chuyên dùng để đưa vốn đến tay người nông dân được thuận lợi hơn, chi phí thấp hơn.

Là NH dẫn đầu cho vay NNNT, nhận thức sâu sắc về những nguy cơ khi nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt hàng loạt khó khăn, thách thức to lớn trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm... Agribank quyết tâm đi đầu thực hiện chỉ đạo của NHNN về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, cùng mong muốn xây dựng nền nông nghiệp an toàn, phát triển bền vững.

Đồng hành với Chương trình “Nông nghiệp sạch” do Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức, phát sóng trên kênh VTV1, Agribank mong muốn góp phần nhân rộng những mô hình sản xuất nông nghiệp an toàn, từ đó thay đổi nhận thức của người tiêu dùng về chất lượng và sự an toàn của hàng nông sản Việt Nam.

Một trong những hành động cụ thể, thiết thực của Agribank để thực hiện mục tiêu đó là Chương trình tín dụng ưu đãi phục vụ “Nông nghiệp sạch”, với quy mô vốn trước mắt là 50.000 tỷ đồng với lãi suất cho vay giảm từ 0,5%/năm đến 1,5%/năm so với lãi suất ưu đãi cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn theo quy định hiện hành của NHNN và Agribank.

Không chỉ có vậy, Agribank còn cho phép vay tín chấp hoặc vay bảo đảm một phần, khách hàng được miễn phí chuyển tiền trong hệ thống Agribank và giảm 50% theo mức phí quy định hiện hành của Agribank đối với chuyển tiền ngoài hệ thống…

“Hút” DN đầu tư vào nông nghiệp

Quá trình thu hút các DN đầu tư vào nông nghiệp trên thực tế gặp phải những khó khăn nhất định. DN đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp ngoài việc phải đối mặt với các rủi ro bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh, thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định… trong khi vẫn thiếu các công cụ phòng ngừa và hạn chế rủi ro.

Bên cạnh đó, mối liên kết giữa khâu cung cấp và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với các nhà khoa học và các đơn vị sản xuất kinh doanh, nông dân trong chuỗi giá trị sản xuất còn ít và chưa chặt chẽ. Điều này dẫn đến chi phí sản xuất cao, khả năng cạnh tranh thấp, chuỗi giá trị ngành hàng bị cắt đoạn, hiệu quả thấp.

Mặt khác, do sản xuất nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ, đất đai phục vụ sản xuất trên diện rộng không nhiều, gây trở ngại lớn trong việc phát triển sản xuất trên quy mô lớn và áp dụng kỹ thuật tiên tiến.

Tài sản hình thành từ các dự án trên đất nông nghiệp phục vụ cho chính hoạt động sản xuất nông nghiệp (nhà kính, ao nuôi...) có giá trị đầu tư lớn nhưng việc được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho DN và NH trong việc định giá và nhận thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay…

Tỷ lệ sinh lời của nông nghiệp thấp, trong khi đó thời gian thực hiện đầu tư cho các dự án phát triển nông nghiệp lâu dài, vốn đầu tư lớn (thường từ trên 10 năm) mới có thể thu hồi được vốn nên các DN có tâm lý e ngại khi đầu tư…

Với mong muốn thu hút ngày càng nhiều hơn DN đầu tư vào NNNT, Agribank xác định DN hoạt động trong lĩnh vực NNNT là đối tượng khách hàng quan trọng trong chính sách tín dụng của Agribank. Agribank sẽ tiếp tục rà soát, đơn giản hóa thủ tục vay vốn của khách hàng. Đặc biệt là các DN hoạt động trong lĩnh vực NNNT, đáp ứng đủ nguồn vốn, cho vay phù hợp với từng đối tượng khách hàng, từng sản phẩm nông nghiệp cụ thể.

NH phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, các ngành liên quan tuyên truyền quảng bá để mọi người dân và các DN hoạt động trong lĩnh vực NNNT biết và hưởng ứng các chương trình, chính sách phát triển NNNT của Chính phủ và Agribank.

Mặc dù Agribank mong muốn quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đẩy mạnh, vai trò của DN, doanh nhân trong sự nghiệp phát triển NNNT được chú trọng, nhưng để đạt mục tiêu lớn trên chỉ mình NH là chưa đủ.

Vì vậy, lãnh đạo Agribank đề xuất, sớm xây dựng chính sách khuyến khích đối với các DN hoạt động trong lĩnh vực phát triển NNNT hỗ trợ về nguồn vốn, lãi suất, thuế cho từng chương trình dự án cụ thể, nhất là đối với các DN mới khởi nghiệp hoặc chuyển đổi hoạt động trong lĩnh vực NNNT.

Các hoạt động xúc tiến thương mại, trao đổi hàng hóa, quản lý thị trường, chính sách hỗ trợ cho thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp từ cung cấp cây, con giống đến khâu chăm sóc, khâu tiêu thụ sản phẩm cuối cùng, nhất là nông sản tiêu thụ theo mùa vụ, vùng miền cần được chú trọng nhiều hơn nữa để đảm bảo ổn định đầu ra sản phẩm…

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.010 23.080 26.667 26.986 29.878 30.357 201,54 208,12
BIDV 23.015 23.085 26.677 26.986 29.904 30.345 201,72 204,73
VietinBank 23.004 23.084 26.609 26.987 29.831 30.391 201,66 205,06
Agribank 23.005 23.080 26.656 26.990 29.904 30.338 201,71 204,90
Eximbank 23.000 23.090 26.669 27.015 29.990 30.380 202,63 205,26
ACB 23.020 23.090 26.675 27.009 30.087 30.386 202,67 205,20
Sacombank 23.009 23.101 26.707 27.068 30.067 30.424 202,55 206,20
Techcombank 22.990 23.090 26.440 27.149 29.672 30.497 201,26 206,42
LienVietPostBank 23.000 23.100 26.607 27.058 30.033 30.441 201,97 205,56
DongA Bank 23.020 23.090 26.690 26.990 30.010 30.370 201,20 205,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.660
36.860
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.660
36.840
Vàng SJC 5c
36.660
36.860
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.650
35.350