14:00 | 30/11/2018

Du lịch Việt thiếu 'mũi nhọn'

Được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, song ngành du lịch vẫn thiếu chính sách đặc thù để có thể "cất cánh".

Thế hệ Y sẽ thay đổi xu hướng du lịch như thế nào?
TP.HCM: Đến năm 2020 doanh thu từ du lịch khoảng 170 nghìn tỷ đồng

Thống kê cho thấy, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng theo từng năm. Nếu năm 2016, lượng khách đến Việt Nam đạt trên 10 triệu người, thì năm 2017 đã đạt 12,9 triệu người (tăng 29% so với năm 2016). Giai đoạn 2015-2017, lượng khách quốc tế tăng 1,63 lần, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 28%/năm.

Ngành du lịch Việt cần tận dụng thế mạnh của mình

TS. Trần Hoàng Ngân, thành viên Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng, Giám đốc Học viện Cán bộ TP.HCM dẫn lại Báo cáo Năng lực cạnh tranh du lịch toàn cầu năm 2017 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới cho thấy, du lịch Việt Nam đã có cải thiện về thứ bậc trên bảng xếp hạng, từ hạng 75/141 quốc gia được đánh giá trong năm 2015 lên thứ 67/136 quốc gia được đánh giá trong năm 2017.

Dự báo, năm 2018 khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt trên 15 triệu lượt, tăng 1,9 lần so với năm 2015; Việt Nam được bình chọn là điểm đến du lịch hàng đầu châu Á.

Theo ông Phạm Quang Thanh, Tổng giám đốc Tổng công ty Du lịch Hà Nội, chúng ta có thể kỳ vọng năm 2020 sẽ thu hút 20 triệu khách quốc tế, 2025 là 28 triệu khách.

Tuy nhiên, việc đáp ứng của Việt Nam về cơ sở hạ tầng có thể khó theo kịp tốc độ tăng trưởng này. Đơn cử về cơ sở lưu trú, xây một khách sạn ít nhất cũng phải mất 2 năm, ông Thanh băn khoăn.

Chưa kể, du lịch Việt Nam đang còn nhiều bất cập, còn tình trạng tour 0 đồng, hướng dẫn viên nước ngoài núp bóng, ăn xin, chèo kéo khách du lịch, ép giá, mất vệ sinh...

Theo điều tra của Tổng cục Du lịch, năm 2014 tổng chi tiêu trung bình cho mỗi chuyến đi của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt 1.14,4 USD. Đến năm 2017, con số này chỉ tăng lên mức 1.171 USD, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Trung Quốc...

Cũng theo thống kê này, trong 5 năm trở lại đây, chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam chủ yếu cho việc thuê phòng lưu trú và ăn uống, chiếm đến 56-60% tổng chi phí; mua hàng hóa, đồ lưu niệm, tham quan, vui chơi, giải trí chỉ chiếm 20%; còn lại là chi phí khác. Trong khi đó, các quốc gia khác như Malaysia, Thái Lan, chi phí cho hoạt động vui chơi giải trí chiếm 40-50%, thậm chí đến 60-70% tổng chi phí cho một chuyến du lịch.

Và có một thực tế, lượng du khách châu Á đến Việt Nam ngày càng tăng mạnh, chiếm tới hơn 70%. Lượng khách này chi tiêu ít hơn nhiều so với du khách đến từ các khu vực khác như châu Âu, Mỹ hay Australia.

Tại bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới, tài nguyên thiên nhiên phát triển du lịch của Việt Nam xếp hạng thứ 28 nhưng chính sách, chiến lược phát triển du lịch bị đứng hạng 105/136 quốc gia.

Theo TS. Trần Hoàng Ngân, Nghị quyết 08 - NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành vào đầu năm 2017 nêu rõ phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác. Nhưng trong thực tế, chúng ta vẫn chưa cụ thể hóa được nội dung chính sách này vào thực tiễn.

Để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, cụ thể hóa Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn.

Cụ thể, chúng ta phải xây dựng và phát triển được sản phẩm du lịch độc đáo. Hiện nay, đa phần khách du lịch chỉ đi tham quan vào giờ hành chính, trong khi đó xu hướng du lịch của du khách quốc tế là được tham gia các hoạt động cả ngày lẫn đêm. Tuy nhiên, Việt Nam rất thiếu các sản phẩm du lịch từ chiều tối đến sáng sớm. Ẩm thực rất ngon nhưng cách quảng bá vẫn chưa hiệu quả...

Quan trọng nhất là cần tổ chức, tạo sản phẩm mới, tạo ra các sân chơi gắn với phát triển du lịch. Hoặc các chương trình du lịch đặc biệt như du lịch tâm linh, du lịch nụ cười... Đây là những điều mà Việt Nam hoàn toàn có thể làm được.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.330 23.450 25.912 26.717 29.401 29.872 204,59 212,65
BIDV 23.330 23.450 25.885 26.632 29.407 29.903 208,86 214,15
VietinBank 23.312 23.442 25.842 26.577 29.246 29.886 209,24 215,74
Agribank 23.345 23.440 25.885 26.281 29.418 29.901 209,17 212,95
Eximbank 23.320 23.430 25.885 26.242 29.476 29.882 209,87 212,76
ACB 23.330 23.430 25.871 26.226 29.469 29.799 210,07 212,96
Sacombank 23.289 23.442 25.911 26.367 29.544 29.950 208,95 213,54
Techcombank 23.310 23.450 25.649 26.510 29.170 30.050 208,37 215,56
LienVietPostBank 23.320 23.460 25.845 26.323 29.534 29.969 209,56 213,48
DongA Bank 23.340 23.430 25.930 26.230 29.510 29.880 206,50 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.160
36.350
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.160
36.330
Vàng SJC 5c
36.160
36.350
Vàng nhẫn 9999
36.190
36.590
Vàng nữ trang 9999
35.730
36.330