16:00 | 05/02/2018

Được một mất ba

Với phần lợi nhỏ mà một số DN xuất khẩu thanh toán bằng EUR có được, thì khi đồng tiền này tăng giá, hàng loạt các DN đang vay nợ bằng EUR đứng trước áp lực lớn do phần nợ “phình” ra đáng kể khi quy đổi theo tỷ giá mới.

Nhập siêu 300 triệu USD trong 15 ngày đầu năm
Xuất khẩu xác nhận kỷ lục mới, hơn 214 tỷ USD
Chính sách mới, vận hội mới

Trong vòng 4 tuần đầu của năm 2018 vừa qua, đồng Euro (EUR) trên thị trường thế giới tăng thêm 2% sau khi đã tăng kỷ lục 14% trong suốt năm 2017. Tại thị trường Việt Nam, đồng tiền này cũng đã tăng 5% trong nửa tháng vừa qua và đạt mức 1 EUR = 28.315 đồng vào thời điểm 1/2/2018.

Mất “lộc” vì chuộng đô la

Khi đồng EUR tăng giá, về mặt lý thuyết các DN Việt Nam xuất khẩu hàng hóa vào thị trường châu Âu sẽ được hưởng lợi khá lớn nhờ phần chênh lệch thanh toán. Bởi theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, năm 2017, xuất khẩu của các DN Việt vào khu vực EU đạt hơn 38 tỷ USD, chiếm tới 14% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Chỉ khoảng 30% DN thủy sản thanh toán bằng EUR

Thực tế không hẳn như vậy. Ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, mặc dù các DN ngành gỗ mỗi năm xuất khoảng 700 - 800 triệu USD vào thị trường EU nhưng do hầu hết đều chọn thanh toán bằng USD nên khi đồng EUR lên giá, các DN không được hưởng lợi gì.

Tương tự, ở ngành thủy sản, ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam cũng cho rằng, mỗi năm thị trường EU nhập khẩu khoảng 1,3 tỷ USD từ các DN Việt, nhưng khi đồng EUR tăng giá chỉ gián tiếp giúp cho hàng hóa trở nên rẻ hơn, nhu cầu nhập khẩu từ EU nhiều hơn chứ không giúp các DN hưởng lợi từ phần chênh lệch tỷ giá. Bởi hiện nay theo khảo sát, chỉ có khoảng 30% DN chấp nhận thanh toán bằng EUR. Nhiều DN lớn như Hùng Vương, Vĩnh Hoàn, Sao Ta… mỗi năm đều xuất khẩu khoảng 40 triệu USD vào các thị trường khu vực này nhưng đều chọn thanh toán bằng USD, nên khi giá đồng EUR lên/xuống đều không ảnh hưởng.

Giải thích về việc có ít DN xuất khẩu lựa chọn thanh toán bằng đồng EUR, một đại diện Vietcombank tại TP.HCM cho rằng, nguyên nhân chính là vì đồng EUR có biên độ dao động giá khá lớn so với đồng USD. Nhiều DN ngay khi đối tác nhập khẩu mở L/C đã ký hợp đồng bán EUR cho các ngân hàng để nhận về tiền đồng hoặc USD nhằm tránh rủi ro khi đồng tiền chung châu Âu trượt giá.

Bên cạnh đó, theo các DN xuất khẩu, hiện nay mặc dù nhiều nước tham gia Cộng đồng chung châu Âu nhưng thực tế không phải quốc gia nào ở EU cũng nhận thanh toán bằng EUR, mà chỉ nhận thanh toán bằng đồng bản địa hoặc USD. Ngoài ra, dù kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang EU lớn nhưng nhiều DN vẫn chủ yếu xuất qua các đối tác trung gian. Các đối tác này thường là các nhà nhập khẩu, phân phối đa quốc gia, luôn chọn thanh toán bằng USD. Chính vì vậy khi EUR tăng giá thì cả bản thân đối tác trung gian và DN xuất khẩu đều không được hưởng lợi.

Lo lắng cho nợ công và giao thương

Ngược lại với phần lợi nhỏ mà một số DN xuất khẩu thanh toán bằng EUR có được, thì khi đồng tiền này tăng giá, hàng loạt các DN đang vay nợ bằng EUR đứng trước áp lực lớn do phần nợ “phình” ra đáng kể khi quy đổi theo tỷ giá mới.

Quan sát cho thấy, hiện nay những DN lớn như: CTCP điện lực dầu khí Nhơn Trạch 2 (NT2), CTCP Xi măng Hà Tiên (HT1); CTCP Xi măng Bỉm Sơn (BCC)… là những DN đang có các món nợ bằng EUR khá lớn. Số liệu đến hết quý II/2017 cho thấy, lỗ lũy kế do tỷ giá của NT2 đạt mức 165,5 tỷ đồng từ khoản vay 91,4 triệu EUR trong các năm trước. Trong khi đó, HT1 và BCC cũng lần lượt ghi nhận các khoản lỗ 90,2 tỷ đồng và 16 tỷ đồng, phát sinh từ việc đồng EUR tăng giá trên thị trường trong nước và quốc tế.

Ở góc độ vĩ mô, các chuyên gia phân tích cho rằng khi đồng EUR lên giá thì nợ công sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực. Bởi hiện nay Chính phủ đang bảo lãnh cho hàng loạt khoản vay bằng EUR để đầu tư các dự án lớn như Nhà máy sản xuất bột giấy Phương Nam, dự án Xi măng Hạ Long, Xi măng Thái Nguyên… Đa số các dự án này đều vay nợ từ 20-60 triệu EUR và rất nhiều dự án đã quá hạn trả nợ. Do vậy, nếu đồng EUR tiếp tục lên giá thì áp lực trả nợ sẽ ngày càng lớn.

Bên cạnh đó, xét ở khía cạnh giao thương, một số chuyên gia cũng cho rằng việc đồng EUR lên giá so với tiền đồng có thể khiến giá hàng hóa nhập khẩu từ châu Âu sẽ cao hơn và gây áp lực lên chỉ số giá nhập khẩu, tác động trực tiếp đến lạm phát. Hiện khu vực EU chiếm tới 74,7% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Chính vì thế sự biến động mạnh của đồng EUR tất yếu sẽ có những tác động đáng kể lên tình hình giao thương của Việt Nam đối với khu vực này trong giai đoạn hiện nay cũng như sắp tới.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
4,90
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.675 22.745 27.809 28.141 31.424 31.928 207,14 211,94
BIDV 22.670 22.740 27.813 28.135 31.457 31.932 209,17 202,28
VietinBank 22.650 22.730 27.729 28.135 31.357 31.917 208,62 212,10
Agribank 22.665 22.735 27.794 28.127 31.410 31.914 205,29 211,49
Eximbank 22.650 22.740 27.787 28.149 31.532 31.943 209,49 212,22
ACB 22.680 22.750 27.805 28.154 31.627 31.944 209,63 212,26
Sacombank 22.660 22.770 27.841 28.223 31.612 31.997 209,51 212,75
Techcombank 22.650 22.750 27.466 28.356 31.159 32.073 207,74 213,42
LienVietPostBank 22.620 22.745 27.633 28.096 31.221 31.636 206,75 210,40
DongA Bank 22.680 22.750 27.090 27.400 30.480 30.830 199,80 202,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.850
37.100
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.850
37.100
Vàng SJC 5c
36.850
37.120
Vàng nhẫn 9999
36.690
37.090
Vàng nữ trang 9999
36.390
37.090