11:24 | 29/05/2018

Euro rơi xuống thấp nhất 6,5 tháng do lo ngại bất ổn chính trị tại Italia

Đà giảm của đồng euro đã chững lại trong phiên giao dịch châu Á sáng nay sau khi đồng tiền chung đã rớt giá rất mạnh, rơi xuống thấp nhất trong 6,5 tháng so với đồng USD trong phiên hôm qua do các nhà đầu tư lo ngại về bất ổn chính trị tại Italia.

Ảnh minh họa

Theo đó, hiện đồng euro đang giao dịch ở mức 1,1630 USD sau khi có thời điểm đã rơi xuống mức 1,1607 USD – mức thấp nhất kể từ ngày 9/11/2017 trong phiên giao dịch qua đêm (phiên giao dịch Mỹ).

Đồng tiền chung đã tăng vọt lên mức 1,1728 USD vào đầu ngày thứ Hai sau khi Tổng thống Italia Sergio Mattarella bác bỏ việc phê chuẩn một nhà chống đồng tiền chung làm bộ trưởng kinh tế.

Nhưng sự phủ quyết của ông Mattarella đã khiến các đảng phản đối liên minh châu Âu tức giận bởi đã làm phá sản kế hoạch thành lập một chính phủ liên minh của họ.

Tổng thống Sergio Mattarella cũng đã triệu tập ông Carlo Cottarelli, cựu Giám đốc điều hành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) để trao quyền thành lập chính phủ thay cho ông Giuseppe Conte, người đã từ bỏ chiếc ghế Thủ tướng chỉ sau năm ngày được chỉ định, do không có khả năng thành lập chính phủ liên minh giữa M5S và đảng Liên đoàn phương Bắc.

Ngay sau khi được Tổng thống Italy giao trong trách thành lập chính phủ mới, Thủ tướng tạm quyền Carlo Cottarelli thông báo sẽ tiến hành cuộc bầu cử mới vào đầu năm 2019. 

Tuy nhiên, các thị trường tài chính lo ngại rằng cuộc bầu cử, có thể diễn ra vào đầu tháng 8 năm nay, được coi là một cuộc trưng cầu dân ý về sự hiện diện của Italia trong Liên minh châu Âu và khu vực đồng euro.

Những lo ngại như vậy đã dẫn đến một sự bán tháo nợ của Italia và khiến giá trái phiếu Đức – một tài sản an toàn phục hồi đột biến. Kết quả là, chênh lệch lợi suất giữa trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Đức và Italia là rộng nhất kể từ tháng 12/2013.

“Sự gia tăng đột ngột chênh lệch lợi suất của khu vực đồng euro khiến các thành viên thị trường lo ngại và là nhân tố chính trong việc bán tháo đồng euro. Về cơ bản, lợi suất của Đức giảm và điều này là tiêu cực đối với đồng euro”, Yukio Ishizaki - nhà chiến lược tiền tệ cao cấp của Daiwa Securities tại Tokyo cho biết.

“Vẫn còn rất nhiều vị thế giá tăng đối với euro đã được xây dựng trong giai đoạn tăng giá của đồng tiền này cho đến thời điểm tháng 5 khi nó phải đối mặt với nhiều còn gió ngược, và sự suy giảm của đồng euro vẫn chưa thấy điểm dừng”.

Trong khi đó tâm lý lo ngại rủi ro tăng trở lại đã đẩy đồng yên Nhật tăng giá mạnh so với các đồng tiền chú chốt khác.

Cụ thể đồng euro hiện đang giao dịch ở mức 126,830 JPY/EUR, giảm 0,28% so với mức giá đóng cửa phiên hôm qua. Trong phiên giao dịch qua đêm, có thời điểm đồng tiền chung đã rơi xuống mức thấp nhất trong 11 tháng so với yên Nhật là 126,520 JPY/EUR. Tính chung từ đầu tháng 5 đến nay, đồng tiền chung đã mất 4% so với đồng yên.

“Điểm yếu của đồng euro là yếu tố then chốt đằng sau sức mạnh của đồng yên. Sức mạnh của đồng yên so với đồng euro là do nó đã phục hồi trở lại so với đồng USD”, Shusuke Yamada - Giám đốc chiến lược ngoại hối Nhật Bản tại Bank of America Merrill Lynch cho biết.

Trong khi đó đồng USD, với việc lợi suất trái phiếu Kho bạc mỹ sụt giảm, cũng giảm 0,35% so với yên  Nhật xuống mức 109,04 JPY/USD. Tuy nhiên nó vẫn còn cao hơn mức thấp 3 tuần là 108,910 JPY/USD thiết lập trong phiên giao dịch qua đêm.

Đồng USD đã tăng nhẹ lên 109,830 JPY/USD vào thứ Hai khi mà cả hai phía Mỹ và Bắc Triều Tiên đều phát đi tín hiệu muỗn vãn hồi Hội nghị thương đỉnh, nhưng điều đó đã nhanh chóng bị lu mờ trước những bất ổn chính trị tại khu vực đồng euro.

Hiện chỉ số USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt khác đang dừng ở mức 94,370 điểm, cách không xa mức đỉnh 6,5 tháng là 94,466 điểm được thiết lập trong phiên giao dịch hôm thứ Hai.

Về diễn biến một số đồng tiền khác, đồng bảng Anh tăng gần 0,1% lên 1,3321 USD. Trong khi đồng đôla Úc, vốn cũng rất nhạy cảm với sự thay đổi trong tâm lý rủi ro, đã giảm 0,2% xuống mức 0,7531 USD; đôla New Zealand cũng giảm 0,2 phần trăm xuống  0,6929 USD. Còn đôla Canada lại nhích nhẹ lên 1,2983 CAD/USD.

Một đại diện khác của châu Á là đồng won Hàn Quốc cũng giảm hơn 0,2% xuống mức 1.076,32 KRW/USD.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.245 26.189 26.924 29.492 29.965 20838 21871
BIDV 23.155 23.245 26.171 26.534 29.508 29.968 20926 21289
VietinBank 23.142 23.242 26.110 26.925 29.442 30.002 20905 21555
Agribank 23.150 23.235 26.161 26.536 29.506 29.963 20914 21276
Eximbank 23.140 23.240 26.249 26.601 29.597 29.994 212,09 214,93
ACB 23.160 23.240 26.258 26.596 29.640 29.947 212,25 214,99
Sacombank 23.157 23.259 26.293 26.657 29.630 29.984 212,32 215,42
Techcombank 23.135 23.245 26.005 26.723 29.212 30.042 210,90 216,50
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.195 26.658 29.607 29.023 211,65 215,51
DongA Bank 23.160 23.230 26.270 26.570 29.560 29.930 211,00 215,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.670
Vàng SJC 5c
36.490
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.370
36.770
Vàng nữ trang 9999
35.920
36.620