14:10 | 09/07/2018

Giá tăng không chỉ bởi tăng lương

Một số nhóm hàng thực phẩm tại TP. HCM đã tăng giá từ tháng 6/2018 và được dự báo sẽ còn tiếp tục tăng.

Lương cơ sở tăng lên 1.390.000 đồng/tháng từ ngày 1/7/2018
Đề xuất tăng 6,92% lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hàng tháng từ 1/7/2018

Theo Sở Tài chính TP.HCM, từ ngày 7/6 và 20/6/2018 hai nhóm mặt hàng thực phẩm là thịt heo (lợn) và trứng gia cầm đã điều chỉnh tăng giá. Trong đó, nhóm hàng thịt heo các loại tăng từ 1,1% – 6,1% (cao nhất là 112.000 đồng/kg thịt ba rọi). Giá trứng gia cầm tăng giá từ 3% - 8% (trứng gà loại 26.000 đồng/chục quả). Tuy nhiên, giá thực tế các mặt hàng thịt, trứng và nhiều loại rau quả, thực phẩm chế biến khác cũng đang âm thầm tăng giá tại các chợ, siêu thị và cao hơn rất nhiều so với giá công bố từ Sở Tài chính.

Giá hàng tiêu dùng sẽ không giảm nhiều trong 6 tháng cuối năm

Tại một số chợ bán lẻ như Hòa Bình, An Đông (quận 5), chợ Tân Bình, Hoàng Hoa Thám (quận Tân Bình), Tân Định (quận 1)… giá thịt heo bán lẻ tăng từ 15% - 20% đối với một số loại thịt ngon (sườn non tăng 20.000 đồng/kg lên 180.000 đồng/kg, nạc đùi từ 96.000 đồng tăng 126.000 đồng)…; các loại trứng gia cầm cũng tăng từ 1.500 đồng – 2.500 đồng/chục.

Hệ thống siêu thị, cửa hàng thực phẩm đang bán hàng bình ổn thị trường tại TP.HCM như Co.op Mart, Vissan, Satrafood… giá bán thịt gia súc, gia cầm và trứng cũng được điều chỉnh tăng tương đương mức giá chợ. Nhóm thực phẩm còn lại là rau củ, thủy hải sản, thực phẩm chế biến cũng tăng giá bán tại các chợ lẻ.

Bà Nguyễn Thanh Hoa, quầy thịt heo 0312, Cửa Bắc Chợ Bến Thành cho biết, đây không phải thời gian cao điểm bán hàng, tuy số lượng khách đi chợ không tăng (có hôm còn giảm, chợ ế), nhưng tiểu thương trong chợ vẫn phải tăng giá bán thịt heo theo bảng giá mới của Công ty Vissan, do giá thịt heo tăng từ đầu vào ở trang trại trước đó.

Ông Lê Hoàng Phong - Phụ trách Kinh doanh Công ty Quản lý chợ đầu mối Nông sản Hóc Môn cho biết, tại chợ sỉ, giá nhóm hàng rau củ quả cũng tăng nhẹ 5% - 10%, do mưa nhiều ở các tỉnh phía Nam như Lâm Đồng (vùng trồng rau củ lớn là Đà Lạt), Tiền Giang, Long An ảnh hưởng đến sản lượng rau củ (thu hoạch ít, mau hư hỏng), vì vậy dù lượng hàng về chợ đầu mối giảm không đáng kể (lượng hàng về chợ khoảng 1.500 – 1.600 tấn/đêm, giảm khoảng 200 tấn) nhưng giá bán cũng tăng. Điều này khiến giá hàng hóa tại chợ lẻ tăng cao hơn như hiện nay.

Theo ông Võ Thanh Sang - Phó Cục trưởng Cục Thống kê TP.HCM, hoạt động thương mại, dịch vụ tháng 6/2018 tại thành phố diễn ra sôi động do vào dịp hè, nhu cầu vui chơi giải trí, du lịch tăng mạnh. Nhiều lễ hội diễn ra (Trái cây Nam bộ năm 2018, liên hoan Ấm thực đất Phương Nam) đã thu hút đông đảo người dân và khách tham quan các tỉnh đến thành phố.

Đồng thời sự kiện bóng đá thế giới World Cup cùng nhiều chương trình ưu đãi, khuyến mãi từ siêu thị, trung tâm mua sắm nhóm sản phẩm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình, lương thực, thực phẩm, dịch vụ ăn uống được thực hiện, kích cầu mua sắm trong dịp này. Không chỉ giá cả hàng hóa tăng mà nhu cầu mua sắm tiêu dùng trong người dân cũng tăng.

Vì vậy, đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của TP.HCM tháng 6/2018 tăng 1,2%. Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 54.210 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2017. Dịch vụ ăn uống đạt 9.810 tỷ đồng, tăng 15,6%. Trong 6 tháng đầu năm 2018, công tác bình ổn thị trường tiếp tục phát huy hiệu quả, hệ thống phân phối hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại và cửa hàng tiện lợi ngày càng phát triển, góp phần quan trọng vào việc kích cầu tiêu dùng của người dân.

Giá rau quả, thực phẩm tăng đã góp phần đẩy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tại thành phố tăng. Chỉ tính riêng trong tháng 6/2018 đã có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng chỉ số giá so với tháng trước. Cụ thể, nhóm lương thực tăng nhẹ 0,18% (gạo tăng 0,34%, thực phẩm chế biến tăng 0,16%, thực phẩm chung  tăng 1,3%).

Nhóm nhà ở điện nước chất đốt tăng 0,72%, chủ yếu do tác động từ việc tăng giá nhà cho thuê, tăng giá gas (tăng 4,80%), giá điện sinh hoạt (tăng 0,36%). Việc điều chỉnh giá cước tàu hỏa tăng đến 7,41%, cước máy bay tăng 2,59%, cước ô tô khách tăng 1,24% và cước taxi tăng 0,61%...

Ông Võ Thanh Sang nhận định, tất cả yếu tố tăng giá này đang ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người dân, nguyên nhân không chỉ do việc tăng lương (theo Nghị định 88/2018 của Chính phủ về điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng từ 1/7/2018), mà còn do giá heo, giá nhiên liệu đã liên tục biến động trong thời gian qua.

Dự báo tình hình giá hàng tiêu dùng sẽ không giảm nhiều trong 6 tháng cuối năm 2018, bởi đây là thời gian tăng mua sắm tiêu dùng, sửa chữa nhà ở, mua sắm đầu năm học mới 2018 – 2019 và nhu cầu đi lại cuối năm của người dân cũng tăng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.290 23.380 26.537 26.014 29.670 30.145 203,29 211,81
BIDV 23.275 23.365 26.485 26.859 29.654 30.123 204,78 208,30
VietinBank 23.284 23.384 26.484 26.909 29.623 30.183 204,88 208,63
Agribank 23.275 23.853 26.498 26.853 29.679 30.124 204,84 207,98
Eximbank 23.280 23.380 26.519 26.874 29.758 30.156 205,69 208,44
ACB 23.300 23.380 26.537 26.878 29.866 30.175 205,89 208,54
Sacombank 23.296 23.388 26.570 26.927 29.858 30.222 205,75 208,80
Techcombank 23.260 23.360 26.247 26.956 29.411 30.232 204,13 209,34
LienVietPostBank 23.260 23.360 26.442 26.903 29.781 30.193 205,12 208,84
DongA Bank 23.335 23.380 26.550 26.850 29.800 30.150 204,40 208,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.470
36.650
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.470
36.630
Vàng SJC 5c
36.470
36.650
Vàng nhẫn 9999
34.820
35.220
Vàng nữ trang 9999
34.470
35.170