10:00 | 07/08/2019

Giảm lãi vay tăng hiệu quả ngân sách hỗ trợ

Từ đầu tháng 8 này, 4 NHTM Vietcombank, VietinBank, Agribank và BIDV đã đồng loạt giảm 0,5% lãi suất cho vay đối với 5 nhóm lĩnh vực ưu tiên và DN khởi nghiệp.

Tăng hút vốn dài hạn không ảnh hưởng lãi vay
Phấn đấu ổn định lãi vay sản xuất kinh doanh
Ảnh minh họa

Theo Vietcombank, việc giảm 0,5% lãi suất đối với các khoản vay ngắn hạn bằng tiền đồng cho 5 nhóm lĩnh vực ưu tiên, bao gồm lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, DNNVV, công nghiệp hỗ trợ, DN sản xuất sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, sẽ tác động tích cực đến hàng ngàn khách hàng vay vốn. Theo thống kê của Vietcombank, dư nợ cho vay 5 nhóm lĩnh vực ưu tiên và khởi nghiệp chiếm khoảng 20% tổng dư nợ ngân hàng này (tương đương khoảng 140.000 tỷ đồng).

Trong khi đó, với các gói tín dụng ưu đãi 60.000 tỷ đồng cho khối DNNVV và 10.000 tỷ đồng cho nhóm DN khởi nghiệp, VietinBank cũng cho rằng, việc giảm lãi suất thêm 0,5%/năm sẽ giúp các chi nhánh của hệ thống ngân hàng này có thể hỗ trợ cho hàng trăm ngàn DN ở các địa phương, nhất là các DN tham gia vào các chuỗi liên kết phát triển công nghiệp hỗ trợ và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp. Bởi các nhóm liên kết chuỗi giá trị khép kín này đang được VietinBank tài trợ vốn cho hàng nghìn dự án lớn, nhỏ.

Việc các NHTM lớn giảm lãi suất cho vay không chỉ tác động tích cực đến khu vực DN sản xuất, kinh doanh; mà ở góc độ đầu tư, động thái này tác động tích cực đến hiệu quả chi tiêu ngân sách. Bởi hiện nay, cả ở cấp độ Trung ương và địa phương, hầu như tất cả các chương trình hỗ trợ tài chính DN, hỗ trợ phát triển các lĩnh vực, ngành nghề đều tựa vào cơ chế dùng ngân sách cấp bù lãi suất vay vốn ngân hàng để triển khai thực hiện.

Chẳng hạn, ở phạm vi cả nước đối với chính sách khuyến khích DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn, hiện nay ngân sách Trung ương và ngân sách các địa phương mỗi năm đang phải bỏ ra trung bình khoảng 100-150 tỷ đồng để hỗ trợ cấp bù một phần hoặc toàn bộ lãi suất vay vốn theo Nghị định 210/2013 (hiện nay được thay thế bằng Nghị định 57/2018) tại các dự án.

Hay như chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch trong lĩnh vực nông nghiệp, theo thống kê hiện nay phần vốn vay được ngân sách hỗ trợ 70-100% lãi suất trên cả nước đã đạt con số trên 5.000 tỷ đồng. Điều này có nghĩa rằng đã có ít nhất vài trăm tỷ đồng ngân sách đã được chi ra để hỗ trợ tài chính cho các DN, hộ nông dân và các hợp tác xã nhằm mua sắm các máy móc thiết bị nông nghiệp.

Tại TP.HCM, số liệu thống kê cho thấy với chương trình khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị, từ năm 2011 đến nay ngân sách địa phương đã bỏ ra khoảng trên 560 tỷ đồng để hỗ trợ cấp bù lãi suất cho các DN, dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển dịch. Ngoài ra, với chương trình xây dựng nông thôn mới, ngân sách địa phương cũng đã cấp bù khoảng 180 tỷ đồng hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các dự án, công trình ở cấp xã, phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng.

Ở các địa phương khác, tình hình cũng diễn ra tương tự. Với các chính sách hỗ trợ lãi suất phục vụ tái cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp, khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, khuyến khích áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông sản sạch, giảm tốn thất sau thu hoạch hoặc hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu trồng trọt, chăn nuôi tập trung… hiện nay mỗi năm các địa phương đang phải chi ra từ vài trăm đến vài chục tỷ đồng để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế dài hạn.

Với nguồn ngân sách hữu hạn việc chi tiêu, giải ngân cho các chương trình, chính sách hỗ trợ tài chính DN thực tế thời gian qua cũng đã bộc lộ một số bất cập, chậm trễ và thiếu hiệu quả. Nhiều địa phương không cân đối được các nguồn lực đầu tư công đã phải trông chờ phần lớn vào nguồn ngân sách Trung ương bố trí và phân bổ.

Chính vì vậy, việc hàng loạt các NHTM lớn công bố giảm lãi suất cho vay đối với các nhóm, lĩnh vực ưu tiên trong thời điểm này thực sự đã mang đến một “món quà” giúp các địa phương sử dụng tiết kiệm và hiệu quả hơn nguồn lực ngân sách. Khi mức tiền cấp bù lãi suất đối với từng chương trình, từng dự án giảm đi cũng đồng nghĩa rằng mỗi chính sách hỗ trợ tài chính sẽ có thêm nguồn tiền khả dụng để mở rộng đối tượng nhận hỗ trợ và khi đó vai trò vốn mồi của ngân sách và vốn vay tín dụng ngân hàng sẽ lan tỏa tốt hơn trong xã hội.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.580 26.485 29.483 29.985 205,48 219,80
BIDV 23.145 23.265 25.654 26.405 29.550 30.112 207,71 214,54
VietinBank 23.136 23.266 25.577 26.412 29.450 30.090 210,59 216,59
Agribank 23.145 23.255 25.487 25.879 29.437 29.920 210,88 214,73
Eximbank 23.140 23.250 25.598 25.952 29.595 30.004 211,83 214,76
ACB 23.130 23.255 25.607 25.960 29.652 29.985 212,03 214,95
Sacombank 23.103 23.263 25.611 26.063 29.639 30.044 211,06 215,58
Techcombank 23.134 23.274 25.364 26.360 29.277 30.200 210,41 217,59
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.536 26.011 29.626 30.065 211,35 215,28
DongA Bank 23.160 23.250 25.620 25.940 29.590 29.990 208,40 214,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.480
41.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.480
41.750
Vàng SJC 5c
41.480
41.770
Vàng nhẫn 9999
41.470
41.920
Vàng nữ trang 9999
40.950
41.750