09:52 | 05/06/2017

IMF cảnh báo rủi ro đối với châu Á từ các chính sách của Mỹ và Trung Quốc

Sự thiếu rõ ràng về quy mô của gói kích thích tài chính như kỳ vọng của Mỹ và sự tăng trưởng tín dụng nhanh chóng tại Trung Quốc nằm trong số những rủi ro che mờ triển vọng kinh tế của châu Á, theo một quan chức cao cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF

Phó Giám đốc điều hành IMF, Mitsuhiro Furusawa, lưu ý việc tăng ​lãi suất nhanh hơn dự kiến ​​của Fed có thể đẩy đồng USD tăng giá đáng kể, từ đó làm tăng gánh nặng nợ nần của các nền kinh tế đang nổi ở châu Á với các khoản vay lớn bằng đồng USD.

“Châu Á tiếp tục dẫn đầu thế giới về tăng trưởng được hỗ trợ bởi nhu cầu (nội địa) mạnh mẽ hơn và các chính sách linh hoạt”, Furusawa nói trong một bài phát biểu tại một hội thảo ở Tokyo về chính sách tài chính và nhân khẩu học của khu vực.

“Tuy nhiên, triển vọng ngắn hạn đang bị che khuất bởi sự không chắc chắn và rủi ro đáng kể”, như sự thiếu sự rõ ràng về chính sách kinh tế của Mỹ, bao gồm cả quy mô lẫn chi tiết của gói kích thích tài chính do Tổng thống Mỹ Donald Trump đề xuất.

Bên cạnh đó, “quá trình tái cân bằng của Trung Quốc tiếp tục, nhưng tăng trưởng vẫn dựa vào tăng trưởng tín dụng nhanh chóng tại thị trường nội địa, điều đó có thể gây ra những vấn đề”, ông nói.

Furusawa kêu gọi các nhà hoạch định chính sách châu Á điều chỉnh chính sách tài khóa của mình phù hợp với việc tăng trưởng dân số chậm lại và sự già hóa nhanh trong khu vực.

Ông nói rằng tăng trưởng dân số ở châu Á dự kiến ​​sẽ giảm xuống còn 0 vào năm 2050, với tỷ lệ người cao tuổi so với độ tuổi lao động ở mức 2,5 lần so với mức hiện tại.

Theo ông, các nhà hoạch định chính sách châu Á có thể giải quyết những thách thức về nhân khẩu học thông qua cải cách hệ thống chăm sóc sức khoẻ và lương hưu, cũng như tạo ra các ưu đãi về thuế để thúc đẩy việc tham gia lực lượng lao động và xây dựng các kế hoạch tài chính trung hạn đáng tin cậy.

“Kinh nghiệm cho thấy điều quan trọng là chính sách tài khóa phải thích ứng trước khi vấn đề già nua xảy ra. Điều này cần được triển khai dần để chia sẻ gánh nặng cho các thế hệ tiếp theo và tránh sự đảo ngược chính sách”, Ông nói.

Sanjeev Gupta - Phó giám đốc bộ phận tài chính của IMF đã trình bày bài phát biểu chuẩn bị thay mặt cho Furusawa, người không thể tham dự buổi hội thảo vì chuyến bay của ông đã bị hủy bỏ.

Nguồn :

Tags:
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,80
5,80
5,80
6,50
6,50
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
5,00
5,80
5,70
7,00
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.740 22.810 26.464 26.781 30.080 30.562 204,66 208,58
BIDV 22.740 22.810 26.467 26.774 30.099 30.550 205,36 208,39
VietinBank 22.736 22.816 26.419 26.797 30.051 30.611 205,31 208,71
Agribank 22.730 22.810 26.648 26.969 30.281 30.704 202,97 206,12
Eximbank 22.720 22.810 26.438 26.782 30.174 30.568 206,32 209,01
ACB 22.750 22.820 26.448 26.780 30.278 30.581 206,61 209,20
Sacombank 22.748 22.830 26.518 26.873 30.286 30.648 206,16 209,23
Techcombank 22.720 22.820 26.198 26.913 29.857 30.696 204,94 210,41
LienVietPostBank 22.720 22.810 26.574 27.027 30.396 30.648 203,44 207,08
DongA Bank 22.740 22.810 26.490 26.790 30.210 30.600 204,60 208,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.500
36.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.500
36.700
Vàng SJC 5c
36.500
36.720
Vàng nhẫn 9999
35.950
36.350
Vàng nữ trang 9999
35.600
36.300